BIẾT MÌNH ĐỂ TƯƠNG QUAN LÀNH MẠNH
(Chủ đề sống Tháng 11 và 12.2026)
Đề tài gợi nhắc chúng ta về câu nói trong giáo huấn của Đức Cha Tổ phụ: “Phải học biết tính mình để khỏi phạm đến người khác”[1]. Qua câu nói ấy, chúng ta hiểu ý Đức Cha muốn rằng: chúng ta trong tư cách là những nữ tu Mân Côi sống đời dâng hiến, vốn là người của mọi người, là người phục vụ mọi người, thì nhất thiết phải “biết mình” để sống nhân bản hơn, trưởng thành hơn trong một nhân cách lành mạnh, biểu hiện qua những hoa trái của tinh thần Dòng như lòng nhân ái, cảm thương, tha thứ, chia sẻ, khiêm nhường, trung tín, bình an… Qua đó, nữ tu Mân Côi thể hiện sứ mạng chiếu tỏa khuôn mặt của Đức Kitô, và làm “lan tỏa hương thơm của Ngài” nơi mọi môi trường sống, trong khi tương quan với Thiên Chúa, với chính mình, với người khác và với các giá trị khác[2]. Vì thế, việc “học biết tính mình” là điều hết sức thiết yếu trong đời sống thánh hiến của nữ tu Mân côi, là nền tảng cốt lõi để xây dựng các mối quan hệ lành mạnh.

I. BIẾT MÌNH LÀ GÌ?
Biết mình là một hành trình khám phá liên tục, dài lâu, thông qua quan sát, phản tỉnh và tự nhận thức sâu sắc về bản thân, để dần dần đắc thủ được khả năng nắm bắt và nhận diện chính xác điểm mạnh, điểm yếu, giá trị cốt lõi, nhu cầu, cảm xúc, thái độ, cũng như những động lực tiềm ẩn và khuynh hướng nội tâm cá nhân, nhằm chinh phục sự quân bình cho nhân cách. Về phương diện tâm lý, biết mình tức là nhận ra được phần nào những điều đã đi vào vô thức, nơi lưu trữ những trải nghiệm, cảm xúc bị kìm nén. Ví dụ: những thất bại, mất mát, sai lầm hoặc đổ vỡ chưa được gọi tên, chưa được đón nhận và vì thế chưa được chữa lành. Thế nhưng, một khi ẩn khuất trong vô thức mà chưa được soi sáng, chúng rất khó nhận diện, nhưng vẫn âm thầm chi phối hành vi, cử chỉ, chúng bị biến thái dưới hình thức những “thói quen” mà ta phải quan sát mình kỹ lưỡng mới nhận ra. Ví dụ như cách ta kéo chú ý, ta tự vệ, nóng giận, ghen tương, thù oán… Chúng hoạt động như những “chương trình” được lập trình sẵn, điều khiển phản ứng của ta một cách hầu như tự động, trước các sự kiện mà ta không kịp suy nghĩ. Giờ đây, ta tìm cách đưa chúng lên ý thức để quan sát, để đối diện với chúng và điều khiển chúng, không để chúng điều khiển mình. Bên cạnh đó, tập lắng nghe ý kiến từ những người mình tin tưởng, hoặc tìm đến sự hỗ trợ của chuyên gia nếu cần.
- Những phương thế để biết mình
1. 1. Có nhiều phương pháp hay phân loại khác nhau. Ở đây, ta chỉ đưa ra mấy phương pháp vốn được nhiều người quan tâm:
– Trắc nghiệm MBTI (Myer Brigg Type Indicator). Là một công cụ phổ biến giúp khám phá và hiểu rõ hơn về tính cách của mình, từ đó nhận biết điểm mạnh, điểm yếu và cách ta tương tác với thế giới xung quanh.
– Khám phá bản thân theo phương pháp Gaston Berger, phân loại cá tính người thành 8 loại dựa trên 3 đặc tính chính: cảm tính, hoạt tính và âm hưởng nổi hoặc âm hưởng chìm.
– Cửu loại (Enneagram), tức chia tính tình con người thành chín loại.
1.2. Tập quan sát và phản tỉnh
Để quan sát mình, điều kiện thiết yếu là tâm ta phải lặng. Hãy tập sống chậm lại bằng cách tạo cho mình những điểm dừng, những khoảnh khắc hướng về đời sống nội tâm, sống thinh lặng, cô tịch, và dành thời gian suy nghĩ về những việc đã làm, rút kinh nghiệm từ ưu, khuyết điểm và khám phá những mẫu hành vi mất tự do, thông qua các cảm xúc hàng ngày của mình như tức giận, thù hằn, oán hận, khao khát quyền lực, sợ hãi ám ảnh, xao xuyến vớ vẩn và ước muốn chế ngự người khác…
1.3. Hồi tâm, (xét mình) hàng ngày
Xét mình ở đây không chỉ là xét lỗi lầm mình phạm trong ngày, nhưng còn là xét xem những thành công và những thất bại trong ngày sống đó, nguyên nhân từ đâu? Rồi tìm cách để khắc phục và thực hiện tốt hơn cho ngày tới. Đối với thánh I-nhã, phương pháp đơn giản để biết mình là nhận định. Mỗi ngày ngài dành ra hai lần, 15 phút vào buổi trưa và 15 phút buổi tối trước khi đi ngủ để nhìn lại ngày sống.
Đức cha Tổ phụ cũng theo cùng một cách thức như trên, ngài khuyên dạy chị em phải nghiêm túc trong việc xét mình ban sáng gọi là xét mình “dự phòng”, ban trưa là xét mình “riêng”, và ban tối là xét mình “chung”. Đối với ngài “Ai bê trễ việc xét mình thì cầm chừng hoặc thoái lui trong đàng nhân đức. Song hễ ai ân cần làm việc xét mình hàng ngày cho đúng kiểu cách thì thế nào cũng tấn tới trong đàng trọn lành mỗi ngày một hơn, không thể thoái lui được”[3].
1.4. Cầu nguyện
Đối với người thánh hiến, cầu nguyện là phương thế hữu hiệu để giao tiếp với Thiên Chúa và sửa đổi chính mình. Khi chìm sâu trong cầu nguyện, ta trở nên nhẹ nhàng và thanh thản hơn để chấp nhận chính mình. Vậy mỗi ngày hãy tìm đến ở lại bên Chúa Giêsu Thánh Thể và cầu nguyện trong thinh lặng lâu giờ, để Chúa uốn nắn con người và cuộc sống mình theo hình ảnh Chúa. Bên cạnh đó, cần duy trì thói quen lượng giá ngày sống dưới ánh sáng Lời Chúa, ngồi đọc và thinh lặng lắng nghe Lời Chúa tận đáy lòng, trải lòng mình ra để xem Chúa nói gì với mình. Chính Người sẽ đưa ra ánh sáng những gì còn ẩn khuất trong bóng tối và phơi bày những ý định trong thâm tâm con người[4]. Người sẽ mở mắt cho ta thấy con người thật của mình. Kết cục là ta sẽ an vui sống theo hoạch định của Chúa và can đảm giao hòa với mình.
- Hệ quả việc biết mình
Khi đã biết mình, ta cũng hiểu rõ bản thân, ta sẽ dễ dàng chọn được cho mình một phong cách sống và tạo lập được các mối quan hệ phù hợp. Cảm xúc cá nhân cũng dần dần được cân bằng. Ta không còn bị lệ thuộc vào đánh giá của người khác và giữ được sự bình thản trước biến cố cuộc sống. Mặt khác, khi đối diện được với mình rồi, ký ức ta dần được chữa lành, ta sẽ không còn phụ thuộc những cảm xúc tiêu cực. Do đó, thôi phản ứng cách vô thức và bắt đầu tương tác có ý thức. Ta dần khám phá giá trị thật về cái tôi của mình, ta sẽ có thể là chính mình khi sống thật với mình hơn, sẽ không còn dễ bị môi trường chung quanh chi phối cách nhìn về “cái tôi” của mình, sẽ bớt mặc cảm tự ti hay tự tôn, và không còn dễ bị tổn thương hay “chạm tự ái” do những câu nói, hành vi, thái độ dù vô tình hay hữu ý của người khác. Nhờ đó, sẽ dễ dàng hơn trong việc khắc phục những tình cảm, cảm xúc thường rất chủ quan như buồn giận, ghen ghét, nóng vội, buông xuôi…, vốn là một phần của cuộc sống. Cuối cùng, ta sẽ dễ dàng hiểu và cảm thông cho chính bản thân mình cũng như những người sống bên cạnh. Nói cách khác, nếu ta trung thực trong việc biết mình, ta sẽ sở hữu được chìa khóa để làm chủ cuộc đời, từ đó, ta có thể sống hòa hợp với chính mình và thế giới xung quanh. Đây là bước đầu tiên để phát triển bản thân, thay đổi nhận thức từ tiêu cực sang suy nghĩ và hành động theo hướng tích cực hơn.
Điều quan trọng là ta phải luôn xác tín rằng, việc tìm biết mình vừa là kết quả của ân sủng Chúa, vừa do nỗ lực tập luyện của bản thân. Về phía Chúa, đây là hành trình soi sáng nội tâm. Chúa dùng ánh sáng của Người để giúp ta thấy rõ sự thật về bản thân, vượt qua những ảo tưởng để nhận ra phẩm giá và tiếng gọi sống đích thực là người con Chúa. Về phía ta, để cộng tác với ân sủng Chúa trong việc tìm hiểu chính mình, cần trung thực với mình và nhận biết những thái độ, hành vi có nguồn gốc từ những nhu cầu chưa được đáp ứng. Đồng thời ý thức mình là thụ tạo tội lỗi yếu đuối, mỏng manh, bất toàn, và chỉ là bụi cát trước sự vĩ đại thánh thiện của Thiên Chúa, nhưng được Chúa yêu thương! Vì thế, tuyệt đối không thất vọng trước khuyết điểm, lỗi lầm, vì ân sủng Chúa mạnh hơn tội lỗi. Nhất là phải kiên nhẫn với bản thân, vì thay đổi bản thân là một tiến trình dài cần sự bao dung với chính mình. Cũng cần khiêm tốn thừa nhận những tổn thương, yếu đuối bên cạnh các ưu điểm và các tài năng tiêu biểu của mình, để mở lòng đón nhận tình yêu và ân sủng Chúa.
II. SỐNG TƯƠNG QUAN LÀNH MẠNH
Biết mình thực sự là bước khởi đầu để nhận ra tình yêu Thiên Chúa, chính là nguồn mạch và chóp đỉnh, cũng là nền tảng và cùng đích của mọi tương quan lành mạnh. Ở đây, chúng ta nhấn mạnh đến ba tương quan căn bản, bao gồm tương quan lành mạnh với Thiên Chúa, với chính mình và với người khác.
Tương quan lành mạnh với Thiên Chúa
Không còn bị “cái tôi” điều khiển, đây là điểm gặp gỡ giữa tình yêu con người và Thiên Chúa. Ân sủng hoạt động trong tương quan này, biến đổi tình yêu nhân loại được thanh luyện trọn vẹn thành tình yêu của Chúa Giêsu, đặc trưng đức Ái Kitô giáo. Đúng vậy, biết mình là nền tảng vững chắc để xây dựng mối tương quan sâu sắc và lành mạnh với Thiên Chúa. Khi đã biết mình, ta thấy rõ những giới hạn, yếu đuối, và cả giá trị cao quý của bản thân là hình ảnh của Thiên Chúa. Từ đó ta dễ dàng mở lòng đón nhận tình yêu và sự chữa lành từ Người. Ta trở nên an tâm về đời sống thiêng liêng của mình, mà không quá áy náy, lo lắng khi bị thiếu sót hoặc lầm lẫn nào đó. Ta cũng không cần phải cố tỏ ra hoàn hảo trước mặt Thiên Chúa, mà có thể thành tâm dâng lên Ngài cả những nỗi đau và sự yếu đuối của mình. Nhận ra mình là thụ tạo được yêu thương, ta sẽ biết ơn món quà sự sống: được sinh ra làm người sống trên trần gian, được làm con Thiên Chúa trong gia đình thiêng liêng là Giáo hội, được bước theo Chúa trên hành trình ơn gọi, trong gia đình Hội Dòng, được Chúa yêu thương cách riêng. Khi nhìn vào cuộc sống, tài năng tinh thần và thể xác Chúa ban, ta nhận ra mình không có gì mà đã không nhận lãnh từ Thiên Chúa[5] … Biết mình yếu đuối ta thấy được tình thương tha thứ và chữa lành của Chúa, biết chấp nhận những yếu đuối của mình, vì chỉ nơi sự yếu đuối ấy mà sức mạnh của Thiên Chúa được thể hiện[6]. Từ đó nảy sinh lòng biết ơn và tâm tình phó thác trọn vẹn bản thân cho Thiên Chúa, thay vì chỉ dựa vào sức riêng mình.
1.1. Lòng biết ơn
Lòng biết ơn là tâm tình cao đẹp nhất của người Kitô hữu, giúp tâm hồn ta luôn ở trong mối tương quan đúng đắn với Đấng là Nguồn mạch mọi ơn lành. Việc cảm nhận và diễn tả lòng biết ơn giúp ta luôn nhớ rằng, tất cả những gì ta có đều là quà tặng của Thiên Chúa. Ngay cả ký ức đau buồn khi được đặt vào ánh sáng của lòng biết ơn, ta không còn nhìn chúng như một sự bất hạnh, nhưng như một tiến trình chữa lành nội tâm, như một thực tại đang chờ được Thiên Chúa bước vào và biến đổi.
Lòng biết ơn không phải là cảm xúc tự phát, nhưng là một chọn lựa thiêng liêng: chọn nhìn lại quá khứ không chỉ bằng lăng kính tổn thương, mà bằng niềm tin rằng Thiên Chúa đã và đang hoạt động ngay trong những điều chưa trọn vẹn. Chính chọn lựa ấy giúp con người chuyển từ thái độ oán trách sang đón nhận, từ khép kín sang tín thác, và từ nội tâm bị chia cắt sang nội tâm được thống nhất và chữa lành. Lòng biết ơn không đòi con người phải quên đi điều đã làm họ đau, nhưng mời gọi họ cho phép Thiên Chúa bước vào ký ức ấy, để thanh luyện, uốn nắn và biến đổi nó. Trong ánh sáng này, lòng biết ơn trở nên con đường hòa giải với chính lịch sử của mình.
1.2. Tâm tình phó thác
“Biết mình” và “phó thác trọn vẹn cho Chúa” là hai khía cạnh không thể tách rời trong đời sống tâm linh. Nói khác đi, sự thấu hiểu bản thân là nền tảng dẫn đến lòng tin cậy tuyệt đối vào Thiên Chúa. Một khi biết mình không là gì trước quyền năng bao la vĩnh hằng của Chúa, ta sẽ học biết phó thác cuộc đời mình cho Chúa. Ta dám để Ngài dẫn dắt qua những thử thách, ta sẽ nhận được sự bình an và ánh sáng của niềm tin, sự an yên trong tâm hồn, sự trọn vẹn trong tình yêu và niềm tin vào Ngài.
Nếu không biết mình là một thụ tạo bất toàn, giới hạn, và có nhu cầu cần ơn cứu độ, tương quan của ta với Thiên Chúa trở nên nông cạn, giả tạo hoặc dựa trên sự sợ hãi thay vì tình yêu thương. Thay vì là sự gắn kết cá vị, nó có thể biến thành nghĩa vụ, sự đối phó, hoặc ảo tưởng về sự thánh thiện. Thiếu đi lòng khiêm nhường thực sự để đón nhận ân sủng, ta dễ trở nên kiêu căng và quy về bản thân, tưởng rằng mọi thành quả đều do sức riêng mình, mà đánh mất đi niềm tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa.
- Tương quan lành mạnh với chính mình
Một khi đã biết mình, ta sẽ có tương quan lành mạnh với mình, ta luôn ý thức trở nên chính mình trong khía cạnh độc đáo và duy nhất của mình. Kế đến là thái độ biết chấp nhận mình với những điểm mạnh và những yếu kém. Và hệ quả thứ ba phát sinh từ hai thái độ trên, đó là lòng tự trọng.
2.1. Trở nên chính mình
Không phủ nhận thực tại mỗi người được Thiên Chúa tạo dựng một cách kỳ diệu, một nhân vị độc đáo, duy nhất và không thể thay thế. Với lịch sử cá nhân làm nên một nhân cách riêng biệt, ta đơn sơ bày tỏ mình như mình “là”, chứ không tỏ ra hơn hay kém hơn những gì mình có, ta có thể bộc lộ điều mình đang nghĩ hay đang cảm nhận, nhờ biết vượt qua cơ chế tự vệ, thái độ phòng thủ. Ta cảm thấy an toàn, được tôn trọng và không phải đeo mặt nạ để làm hài lòng người khác. Mối quan hệ dựa trên sự chân thành, cho phép ta phát triển bản sắc riêng trong khi vẫn kết nối sâu sắc với người xung quanh.
Trong thực hành, ta cần hiểu rằng: “là chính mình” không phải là khép kín nơi mình theo một thứ “chủ nghĩa cá nhân” chỉ biết đến quyền lợi riêng mình, mà quên đi nghĩa vụ tôn trọng người khác. “Là chính mình” nhưng đồng thời phải biết vượt lên trên mình, vươn ra khỏi mình để hòa đồng với những tính tình khác, những thị hiếu khác, những tư tưởng khác… “Là chính mình” ở đây, muốn nói đến một hành trình giải phóng nội tâm đích thực: “hành trình từ ‘con người cũ’, chỉ muốn đóng kín nơi mình, tới ‘con người mới’, trao ban chính mình cho người khác”[7].
2.2. Chấp nhận bản thân
Cho dẫu ta là quà tặng của Đấng Tạo Hóa đầy yêu thương, nhưng ta không phải là thần thánh hay thiên thần. Ta là con người hữu hạn và bất toàn, ta cần luyện tập sống bình an và chấp nhận chính mình cùng với vẻ đẹp, sự phong phú, những tiềm năng, và cả những điểm mạnh và điểm yếu riêng. Khi biết quý trọng tài năng của mình, thì ta cũng khiêm tốn nhận lỗi lầm, với thân phận tội lỗi và có thể sai lầm vì bản tính nhân loại nơi mình. Từ đó ta không còn bị thao túng bởi dục vọng, những ham muốn hay cảm xúc tiêu cực, và hình thành một cuộc sống mới trong sự hợp nhất với chính mình và hài hòa trong mọi tương quan. Trái lại, nếu ta chán ghét bản thân, thì ta cũng chán ghét người khác và khó chấp nhận người khác khi thấy họ bất toàn.
Cần hiểu một cách đúng đắn, chấp nhận mình không có nghĩa là cam phận, mà là bình tâm đón nhận những gì mình đã được trao ban, đồng thời cảm nghiệm về một sự sống mới luôn phát sinh và triển nở trong ta. Bởi lẽ Thiên Chúa không ngừng sáng tạo từ những gì Ngài đã tạo thành. Trong ý nghĩa đó, chấp nhận chính mình không cho phép ta giới hạn khả năng, khép kín hay định kiến về mình. Cần xóa đi những kiểu lý sự: tôi là vậy, không thể khác hơn! Tất nhiên, tính khí con người không thể thay đổi hoàn toàn, nhưng hoàn toàn có thể xóa mờ những vết nhăn, bào mòn những thô nhám, cắt tỉa những xu xi, sắc cạnh nơi cá tính mình. Bản năng vẫn còn đó, cá tính không thể triệt tiêu, nhưng nếu sống có mục tiêu, ta sẽ biết cách thăng hoa những bản năng và cá tính ấy thành nguồn năng lượng tích cực thay vì để chúng dẫn lối sai cách.
2.3. Lòng tự trọng
Biết mình một cách khách quan hay khả năng đánh giá đúng về cái tôi hiện thực của mình, hẳn là điều kiện cơ bản của lòng tự trọng đích thực. Lòng tự trọng đích thực không cho phép ta đánh giá cao cũng không đánh giá thấp về bản thân mình, nhưng nhận biết sự thật về mình. Sự thật đó có những điều không hay không tốt, nhưng vẫn có những điều tốt điều hay. Cả hai chiều hướng đều phải được nhìn nhận đúng để quân bình hóa cái nhìn về mình, và từ đó biết cách xúc tiến mọi tương quan một cách hài hòa, trong đó có tương quan với chính mình. Không biết mình đầy đủ sẽ đưa đến sự tự trọng giả tạo hay chẳng tự trọng gì hết. Đó là do cái tôi tiềm ẩn với những động cơ, nhu cầu căn bản chưa được nhận dạng. Đây thường là phạm vi gây ra nhiều trở ngại cho việc biết mình và lòng tự trọng. Bởi vậy ta cần huấn luyện mình để biết nhạy cảm và đánh giá đúng cái tôi hiện thực của mình.
- Tương quan lành mạnh với tha nhân
Biết mình không những để điều chỉnh tương quan nội tại mà còn vươn ra các tương quan khác, để có thể hiểu biết về người khác và để dung hòa bản thân với người khác hơn khi tương quan với họ. Ta cần nhắc lại giáo huấn đức cha Tổ Phụ ở đây, là “phải học biết tính mình để khỏi phạm đến người khác, không than van, không nghe nói hành, biết dùng trí khôn khéo mà đem những người bất thuận làm hòa cùng nhau”[8]. Đây là lời khuyên khôn ngoan đầy trí tuệ về sự tự nhận thức bản thân, thấu hiểu chính mình để tránh làm tổn thương người khác. Thông điệp này phải được chị em Mân Côi nhìn nhận như một “triết lý” sống mà Đức Cha truyền lại. Trong thực hành, để tương quan lành mạnh với tha nhân, chúng ta cần nhấn mạnh hai điểm sau:
3.1. Để cho người khác là chính họ
Nếu lòng tự trọng phát sinh từ việc biết chấp nhận mình và trở nên chính mình, thì đồng thời ta cũng phải biết để cho người khác là chính họ nữa. Thực vậy, khi trở nên chính mình, ta khám phá và yêu mến cái bí mật của chính bản thân mình, với độc nhất tính của nó; Thì đồng thời ta cũng phải tập luyện để có thể tự do yêu mến tha nhân đúng như thực trạng của họ, chứ không phải như thực trạng ta mong muốn về họ[9]. Thực trạng của tha nhân được hiểu như là tất cả những gì làm nên bản tính sâu xa của họ, các đức tính và tài năng của họ, bao gồm cả những yếu đuối và những điều kỳ cục đang thật sự thử thách lòng kiên nhẫn của ta, cũng như mọi xích mích, va chạm và chống đối đang nảy sinh giữa họ và ta. Theo ý nghĩa này, đức cha Tổ Phụ cũng dạy một cách cụ thể: “Khi con đến cùng chị em, con hãy tỏ mặt thật thà, đơn sơ, vui vẻ, để chị em đến cùng con chẳng ngại ngùng e lệ…, hãy nhịn nhục chị em con, dầu không tỏ mặt vui cười được vì đôi khi cũng khó, thì ít nữa, con cam lòng nhịn nhục chị em con. Hãy năng suy rằng, chính con cũng có những điều làm chị em phải nhịn nhục con…”[10]. Câu nói mời gọi ta soi chiếu lại bản thân để nhận ra chính mình cũng có những khuyết điểm, tính xấu hoặc lời nói vô tình khiến người khác phải chịu đựng.
3.2. Là chính mình trong sự hiệp nhất chung
Một cộng đoàn vững mạnh là nơi mà sự đa dạng được tôn trọng và mỗi cá nhân đều có không gian để phát huy tối đa tiềm năng của mình. Thực tế, nếu biết lắng nghe và trân trọng quan điểm của người khác, sẽ giúp mở rộng góc nhìn và tránh những xung đột không đáng có. Trong thực hành, hãy nhớ luôn hạnh phúc với thực tại của mình, tránh thái độ so bì, ganh tỵ hay đố kỵ với một ai về bất cứ điều gì. Thay vào đó là thái độ chia sẻ chân thành, mang tính xây dựng và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển. Thay vì phóng chiếu những khiếm khuyết của chính mình trên người khác, ta tự chịu trách nhiệm về cảm xúc và hành động của mình, ta không đòi hỏi đối phương phải thay đổi để làm ta hạnh phúc, nhưng biết biến mối quan hệ trở thành nơi các cá nhân độc lập cùng hỗ trợ nhau.
Kết luận
Biết mình là một hành trình dài nhất, khó nhất, không phải là cuộc hành trình trong không gian địa lý, mà là một hành trình vào chiều sâu tâm hồn, vốn là điều kiện tất yếu, và là cửa ngõ để đi vào tương quan với Thiên Chúa, với chính mình và với tha nhân. Nhưng rất khó để ta tự xác định được những giới hạn của chính mình cũng như để hiểu hết được những gì đang diễn ra trong mình, nên cũng khó biết được những gì mình “là”. Tuy nhiên, ta phải biết rằng, hễ điều gì chưa hài hòa nơi bản thân, thì cũng làm ta xa cách Thiên Chúa và khó hài hòa với tha nhân! Vì thế, nó đòi hỏi mỗi người phải không ngừng khám phá để tự “biết mình”. Biết được mình là một thành công vô cùng lớn trong kiếp sống làm người. Nhưng để thành công thì còn cần đến ý chí, nghị lực, nhất là biết chỗi dậy sau những lần vấp ngã. Điều quan trọng là ta cứ kiên trì bắt đầu rồi lại bắt đầu, và toàn tâm toàn ý trên hành trình này. Đồng thời đặt mình vào viễn tượng Ân sủng Chúa là nền tảng tuyệt đối cần thiết. Để tạm kết, ta cùng nhau trở lại với triết lý sống của Đức cha Tổ Phụ qua câu nói: “Biết mình mới thật văn minh, mới nên quân tử mới thành trượng phu”. Đây là hai câu kết rút ra từ bài thơ thứ nhất của ngài, có ý khuyên nhủ các tín hữu phải luôn tự nhận thức được bản thân, biết rõ giới hạn và những thiếu sót của mình, đồng thời biết rõ Chúa là Đấng nào, thì mới thực sự là người có trí tuệ, đạo đức và đáng được tôn trọng[11]. Cuối cùng, nhờ biết được giới hạn nơi bản thân mà con người có thể khát khao vươn lên chiêm ngưỡng Đấng Vô Hạn, nguồn mạch của mọi chân lý.
Gợi ý thực hành
- Trong các giờ cầu nguyện, hồi tâm và từng lúc trong ngày sống, đề nghị chị hãy năng đánh giá lại các động cơ thúc đẩy chị chọn lựa các hành động thường ngày. Vì nếu không làm sáng tỏ các động cơ thúc đẩy ta chọn lựa các hành động, ta sẽ có những hành vi xung động hay chỉ thuần túy bản năng!
- Để duy trì sự thống nhất, chị cần đánh giá lại bậc thang giá trị trong đời sống, và xét xem các bậc thang giá trị ấy có phù hợp với lời cam kết trong đời sống thánh hiến không?
- Tập sống với lòng tự trọng: chúng ta tiếp tục bình tâm hoàn thành sứ vụ, dù có hoặc không có sự tán thưởng của người khác. Chỉ cần lương tâm chứng giám cho chúng ta về sự tán thưởng của Thiên Chúa là đủ.
Maria Trần Thị Nên, FMSR
[1] Bạn thân của nhà Dòng; Trí ý nhà Dòng phải có, số 8; trong GSD1, tr, 371
[2] x. MNT, XVI, GSD1, tr, 454
[3] x. VNTLG, đoạn VII, mục VIII, GSD1, tr. 282 – 283
[4] 1 Cr 4 – 5
[5] 1 Cr 4, 7
[6] 2 Cr 12, 9
[7] x. ĐSHĐCĐ (Đời sống huynh đệ cộng đoàn), 21
[8] x. GSD1, tr. 371; Eph 4, 2 – 3
[9] JEAN VANIER, Cộng đoàn, nơi tha thứ & mừng lễ; NXB Fleurus/Bellarmin; Dịch giả LM Phêrô Nguyễn Ngọc Mỹ; tr. 60
[10] x. BTCND, Những nhân đức phải thi hành…, 2, 4; GSD1, tr. 399
[11] X. Đức cha ĐAMINH MARIA HỒ NGỌC CẨN; Triết nhơn tri kỷ – Người khôn ngoan biết mình; GSD 3, tr. 447 – 474