Linh Đạo Dòng
VỚI TINH THẦN ĐỨC ÁI TRỌN HẢO, CHỊ EM MÂN CÔI CÙNG MẸ MARIA SỐNG MẦU NHIỆM CỨU ĐỘ, VÀ MANG ƠN CỨU ĐỘ ĐẾN CHO MỌI NGƯỜI

Trở Về Với Đấng Đã Khởi Sự

Trở Về Với Đấng Đã Khởi Sự

Đối với tôi, sống là Đức Ki-tô, và chết là một mối lợi.” (Pl 1,21)

Có những cái chết làm người ta kinh hoàng. Có những cái chết để lại giằng xé, tiếc nuối, ngổn ngang. Và có những cái chết, hiếm hoi thôi, khiến người đứng bên bỗng thấy lòng mình bình an đến lạ thường, như thể vừa dự một nghi lễ thánh mà chẳng ai kịp chuẩn bị. Tôi vừa chứng kiến một cái chết như thế.

Bà là một nữ tu trong Hội Dòng, nhưng tôi vẫn gọi là bà, vì bà gần gũi như bà nội, bà ngoại của tôi vậy. Chín mươi mốt năm làm người. Bảy mươi mốt năm khấn dòng. Bảy năm cuối cùng nằm trên giường, không còn tự chăm sóc được mình.

Rồi bà đi. Chỉ một cái rướn mình nhẹ. Một tiếng ngáp khẽ. Thế thôi. Không giãy giụa. Không hốt hoảng. Không một lời than. Cánh cửa cuộc đời mở ra êm ái như người ta khép lại một cuốn sách đã đọc xong, đọc kỹ, đọc chậm, đọc với tất cả tấm lòng. Tôi đứng đó, tay vẫn còn ấm hơi bà, và điều đầu tiên dâng lên trong lòng tôi không phải là nỗi đau, mà là một niềm hạnh phúc rất khó gọi tên.

Đó là cái nhẹ của một người đã đặt xuống hết, đã trao đi hết, không còn gì để níu giữ và cũng chẳng còn gì để sợ mất. Cái nhẹ của chiếc lá rời cành khi nhựa đã rút về gốc; của người lữ khách về đến cửa nhà mình, đặt gánh xuống bậc thềm. “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi… Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.” (Mt 11,28.30) Bảy mươi mốt năm, bà đã học thuộc bài học ấy. Nên đến giờ cuối, chẳng có gì nặng để vác theo.

Người ta thường tưởng cái chết an bình là chuyện may rủi. Tôi không tin như vậy nữa. Giây phút ra đi của bà không phải một tai nạn hạnh phúc; đó là mùa gặt, là hoa trái chín của một đời đã gieo trồng rất lâu, rất âm thầm.

Ngày lãnh Bí tích Rửa Tội, bà đã chết một lần rồi: “khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy… là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người… để cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6,3-4). Ngày khấn dòng, bà chết thêm một lần nữa, lần này là chọn lựa tự do của một người con gái trẻ dâng hiến cả tương lai mình; Công đồng Vaticanô II dạy rằng việc tuyên khấn các lời khuyên Phúc Âm làm cho người tu sĩ “chết đối với tội lỗi và từ bỏ thế gian để sống cho một mình Thiên Chúa” (Lumen Gentium, 44).

Và rồi mỗi ngày, suốt bảy mươi mốt năm, bà chết một chút: trong khó nghèo, trong vâng phục, trong khiết tịnh, trong những phận vụ nhỏ bé chẳng ai ghi tên. Mỗi lần từ bỏ ý riêng là một cuộc tập dượt. Mỗi lần nhường nhịn là một lần nới lỏng tay. “Mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết.” (1 Cr 15,31) Cho nên khi Chúa đến thật, Người không phải gõ cửa lâu. Cánh cửa ấy đã mở hé từ bảy mươi mốt năm trước. “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.” (Gl 2,20)

Bảy năm nằm một chỗ, không tự ăn, không tự trở mình. Theo cái nhìn của thế gian, đó là bảy năm vô ích — thậm chí là bảy năm gánh nặng. Đức tin nhìn khác. Thánh Gioan Phaolô II dạy rằng đau khổ được kết hợp với Thập Giá thì trở nên một nguồn sức mạnh lạ lùng cho Hội Thánh (Salvifici Doloris, 24-27); và nhờ Bí tích Xức Dầu Bệnh Nhân, người đau yếu được “kết hợp cách thân mật hơn với cuộc khổ nạn của Đức Ki-tô” (GLHTCG 1521-1522).

Nhưng tôi không cần đọc văn kiện mới hiểu. Suốt bảy năm, chưa ai nghe bà than vãn một lời, chẳng ai thấy bà đòi hỏi điều gì. Chỉ có nụ cười hiền hòa ấy, và lạ thay, chính người được chăm sóc lại là người sưởi ấm cho những người chăm sóc mình. Chiếc giường ấy không phải là nơi bà bị bỏ lại. Đó là bàn thờ cuối cùng của đời bà, nơi bà dâng lễ vật duy nhất còn lại: chính thân xác bất lực của mình. Và bà đã dâng với một nụ cười.

Sự thánh thiện thật thì không bao giờ nặng nề. Đức Thánh Cha Phanxicô nói vị thánh là người “có khả năng sống vui tươi và biết hài hước”, còn sự khắc khổ cau có không phải là dấu chỉ của Tin Mừng (Gaudete et Exsultate, 122-128). Người ta chỉ đùa được khi lòng không còn bị thắt lại bởi sợ hãi, bởi tự ái, bởi nhu cầu phải chứng tỏ. Bà đã buông những thứ đó từ lâu lắm rồi.

Sự thinh lặng của bà suốt bảy năm, không đòi hỏi, không kể lể, làm tôi nhớ một Thánh vịnh ngắn mà đẹp: “Hồn con, con vẫn trước sau giữ cho thinh lặng, giữ sao bình an. Như trẻ thơ nép mình lòng mẹ, trong con, hồn lặng lẽ an vui.” (Tv 131,2) Những năm tháng đó bà là đứa trẻ nép mình trong lòng Mẹ, và đứa trẻ ấy ngủ thiếp đi vào một buổi chiều, êm đến mức người bên cạnh suýt không nhận ra.

Lúc còn khỏe, bà vẫn thường giỡn với tôi: lúc bà ra đi, con nhớ đứng vuốt mắt bà. Một câu nói đùa, nói rồi cười, nói xong là quên. Vậy mà trong những giây phút cuối cùng của đời bà, tôi lại được diễm phúc đứng ngay đó, đúng chỗ bà đã dặn. Có những lời hứa tưởng là đùa, mà Thiên Chúa lại ghi nhớ rất nghiêm túc.

Tôi chợt nhớ ngôn sứ Êlisa xin Êlia: “Xin cho con được hai phần thần khí của thầy!” “Anh xin một điều khó đấy! Nếu anh thấy thầy khi thầy được đem đi, rời xa anh, thì sẽ được như thế.” (2 V 2,9-10) Lòng tôi khi ấy chỉ có một lời nguyện lặp đi lặp lại: xin bà truyền lại cho con sự nhẹ nhàng điềm tĩnh ấy; xin sự hiền từ ấy đừng đi theo bà, xin bà để nó lại đây cho con.

Hội Thánh không bao giờ để con cái mình ra đi một mình. Bên tai người hấp hối, Hội Thánh thì thầm: “Hỡi linh hồn Kitô hữu, hãy ra đi khỏi thế gian này, nhân danh Chúa Cha toàn năng, Đấng đã tạo dựng nên ngươi…” (x. GLHTCG 1020); và khi thân xác rời nhà thờ lần cuối, ca đoàn hát điệp ca cổ kính nhất: “In paradisum deducant te Angeli. Xin các Thiên thần dẫn đưa bạn vào chốn thiên đàng.” Bà đã được kêu gọi “gắn bó với Người bằng trọn cả bản tính mình, trong sự thông hiệp vĩnh viễn với sự sống thần linh bất diệt” (Gaudium et Spes, 18). Và bà đã thưa vâng, lần cuối cùng, bằng một tiếng ngáp khẽ.

Hội Thánh dạy rằng sự hiệp thông với các thánh không bị cái chết cắt đứt (x. GLHTCG 955; 957). Nghĩa là lời tôi xin bà hôm ấy không phải nói với hư không. Vậy thì, bà ơi, con xin lại điều con đã xin:

Xin để lại cho con nụ cười hiền hậu ấy, thứ nụ cười không cần lý do, không cần ai thấy. Xin để lại cho con sự điềm tĩnh ấy, thứ bình an không phải vì mọi sự đều tốt đẹp, mà vì đã biết mình được yêu. Xin để lại cho con lòng khiêm tốn hóm hỉnh ấy, cái duyên ngầm của một tâm hồn đã tự do. Và nếu được, xin để lại cho con cách bà đã ra đi: nhẹ, rất nhẹ, như một cánh hồng được nâng lên bởi hơi thở của Thánh Thần.

Cụ già Simêôn, sau khi đã bồng Hài Nhi Giêsu trên tay, đã thốt lên lời đẹp nhất để tiễn một người đi ngủ lần cuối: “Muôn lạy Chúa, giờ đây theo lời Ngài đã hứa, xin để tôi tớ này được an bình ra đi. Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ.” (Lc 2,29-30) Bà đã bồng Chúa trên tay suốt bảy mươi mốt năm. Nên khi đến giờ, bà chỉ cần đặt Người xuống một lát, rồi được chính Người bồng lên.

CAT, FMSR

About dongmancoichihoavn

Check Also

Những Mái Đầu Bạc Hành Hương Về Nguồn

Tinh thần các Chị cũng như được sống lại những ký ức đẹp khi đang trở về những nơi mình đã từng hiện diện. Trong những ký ức đẹp ấy, tuổi xuân còn đó, sự miệt mài phục vụ không phai, những khó khăn thiếu thốn vẫn còn dấu vết…,

Để lại một bình luận