Cùng Mẹ Maria Sống Mầu Nhiệm Cứu Độ và Mang Ơn Cứu Độ Đến Cho Mọi Người

NHỮNG BÀI HỌC LỊCH SỬ

Trong tinh thần nhớ ơn cuội nguồn, năm nay Tỉnh Dòng Truyền Tin Việt Nam mừng 10 năm thành lập. Nhân dịp này chị em cũng tưởng niệm  Đức Cha Tổ Phụ Đôminicô Maria hồ Ngọc Cẩn qua đời được 65 năm và kỷ niệm 67 năm thành lập Hội Dòng. Đây là cơ hội để Tỉnh Dòng tạ ơn Thiên Chúa, tri ân Đấng Sáng Lập và những bậc tiền bối, đồng thời hướng về Hội Dòng để nhận ra sự huyền nhiệm của Thiên Chúa ngay trong bước hành trình. “Hướng về Hội Dòng” ở đây không có nghĩa là sẽ trình bày những giai đoạn, những sự kiện, những con số .. Tất cả những điều này đã được nói tới trong nhiều tài liệu của Dòng, nhưng điều chúng ta muốn nhắm đến là điểm qua một số cột mốc lịch sử quan trọng làm nên một chặng đường 67 năm để “ôn cố tri tân”: nhìn lại quá khứ để học biết hiện tại. Nhìn về quá khứ không chỉ là để bảo tồn giá trị truyền thống mà còn làm cho những giá trị đó trở nên hiện thực. Nhìn về quá khứ của Hội Dòng để rút ra bài học tín thác và hy vọng được đâm hoa kết trái trong hiện tại. “Hướng về Hội Dòng” cũng là để sống đậm đà tâm tình tri ân về những gì đã  lãnh nhận và cũng là để khám phá khuôn mặt của Hội dòng ngay trong những bài học lịch sử của mình.

          Ngày 08 – 09 – 1946, Đức Cha tuyên sắc lập Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi - Bùi Chu.

Lúc bấy giờ, trong bầu khí canh tân hàng giáo sĩ, công đồng Đông Dương (1934) kêu gọi các Đấng Bản Quyền cải cách Nhà Phước thành các cộng đoàn sống đời tu dòng trong Giáo Phận, Đức Cha Đôminicô Maria Hồ Ngọc Cẩn, với ước nguyện để các thiếu nữ có nơi sống đời tu theo luật Giáo Hội và cũng nhằm lợi ích của Giáo Phận, đã xin Tòa Thánh lập một dòng nữ trong Giáo Phận. Mặc dù có nhiều khó khăn về tình hình chính trị biến động trên thế giới cũng như tại Việt Nam và cả những khó khăn riêng của Giáo Phận, nhưng Đức Cha đã vượt qua tất cả để thực hiện ý muốn lập một hội dòng mới trong Giáo Phận. Nhờ sự năng động của Chúa Thánh Thần, ngày 08 – 09 – 1946, Đức Cha tuyên sắc lập Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi – Bùi Chu.

          Với khát vọng ôm ấp từ lâu là thực hiện một mô hình “nữ tu tông đồ” có 3 lời khấn dòng, Đức Cha Tổ Phụ đã cầu nguyện và dày công nghiên cứu cho sự hình thành một Hội Dòng. Đức Cha đã vượt bao khó khăn của hoàn cảnh lúc bấy giờ để chuẩn bị cho việc khai sinh một Hội Dòng (1941) cho tới khi Hội Dòng chào đời (1946). Sau đó ngài còn tiếp tục huấn luyện, gieo trồng những hạt giống tốt vào mảnh đất tâm hồn chị em. Biết bao lời chỉ dạy đã được trao ban. Biết bao lời giáo huấn thâm sâu được truyền lại như một kho tàng phong phú làm nền tảng cho đời sống tu trong đặc sủng Mân Côi. Đức Cha đã làm trọn nhiệm vụ của một Đấng Sáng Lập là cộng tác với Chúa Thánh Thần để tập họp chị em lại thành một Hội Dòng mới với tinh thần, mục đích và luật lệ thích hợp.

          Một tiến trình lột xác đầy khó khăn! Tiến trình chấp nhận thay đổi cái xác “Nhà Phước” để mặc lấy một căn tính mới: Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi Bùi Chu.

          Sự thành công trong việc lập một hội dòng mới trong hoàn cảnh đầy khó khăn vào thời điểm ấy gợi lên trong chúng ta hinh ảnh một con người dũng cảm, trí khôn sắc sảo, nhẫn nhục, tín thác, dám nghĩ và dám làm…. Dưới con mắt thế gian thì việc quyết định lập một hội dòng mới vào thời đểm ấy là một việc liều lĩnh và bất khả thi, nhưng đối với người đã cảm nghiệm được ân sủng của Thiên Chúa và hiểu được trách nhiệm của mình trước ơn soi động của Chúa Thánh Thần thì lại là một việc cấp thiết dù phải trả bằng bất cứ giá nào. Để thực hiện ý định của mình,  Thiên Chúa cần đến một con người cụ thể, và có thể nói, nơi Đức Cha Tổ Phụ, Thiên Chúa cho hội đủ những điều kiện cần thiết để khai sinh một Hội Dòng. Ngài ban đủ ân sủng và các đức tính phù hợp để ý định của Ngài không bị dập tắt bởi những bất ổn của xã hội hay do những trở ngại từ phía con người. Thậm chí, chúng lại trở thành những công cụ mài dũa cho sắc  bén them ý định của Ngài.

          Với khẩu hiệu Giám mục “hết lòng nhẫn nhục” và “tận tâm giáo huấn,”, Đức Cha Tổ Phụ đã dành trọn tâm trí chăm lo cho sự lớn lên của Hội Dòng và đã vắt cạn đời mình để viết những cuốn sách dành riêng cho việc huấn luyện chị em. Khởi hứng nguyên thủy của Đức Cha Tổ Phụ chính là ân huệ Chúa Thánh Thần, đã làm sinh động đời sống Hội Dòng ngay trong những ngày đầu, khi mà mọi chị em hăm hở lắng nghe và thực hành những giáo huấn của ngài để được nên thánh. Các bút tích ngài để lại phát xuất từ xác tín sâu xa và từ kinh nghiệm sống, quả là một công trình vượt bậc mà nhiều người tự đặt câu hỏi: làm sao với thời gian ngắn ngủi, các phương tiện vào lúc ấy lại rất thô sơ, thế mà Đức Cha đã thực hiện bao công việc vĩ đại, không chỉ riêng cho Hội Dòng mà con cho Giáo Phận nữa?

Ngày 27- 11- 1948 Đấng Sáng Lập qua đời.

          Mọi sinh hoạt của Giáo Phận và Hội Dòng đang tiến triển tốt đẹp thì Đức Cha lâm bệnh và qua  đời. Ngài ra đi vào tuổi 72, độ tuổi chưa quá thọ. Có lẽ một phần do bệnh tật thể xác, nhưng cũng có thể do ảnh hưởng của những đau khổ tinh thần. Một số cha và các chị em sống gần Đức Cha cho biết ngài gặp nhiều đau khổ cũng như phải chịu rất nhiều vất vả gian nan trong những năm coi sóc địa phận, nhất là vào những năm cuối đời. Biến cố Đấng Sáng Lập qua đời là một nỗi buồn sâu đậm và để lại sự thương tiếc vô hạn, không chỉ riêng đối với Hội Dòng mà còn đối với Giáo Phận và cả Giáo Hội Việt Nam.

          Trước sự ra đi của Đấng Sáng Lập, cây Mân Côi tưởng chừng không thể tiếp tục đâm chồi, nhưng “Công việc Chúa làm…Ngài chẳng để dở dang” (Tv 137, 8). Mặc dù chị em còn non dại, chưa nắm bắt và hiểu hiết được những gì phải làm để có thể đứng vững, nhơ bàn tay “Chúa bao bọc cả sau lẫn trước”(Tv 138, 5), và nhờ một số cha có tâm huyết ghé vai gánh vác trách nhiệm với Đức Cha, Hội Dòng đã vượt qua cơn bão táp lịch sử này. Sự kiện mất đi một người cha, một nhà đào tạo tuyệt vời trong lúc Hội Dòng còn đang chập chững bước vào đời, càng tỏ rõ thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa: Ngài muốn khép lại một cuộc đời để từ đó, làm vươn lên những mầm sống mới. Sau khi qua đời, hình ảnh Đức Cha Tổ Phụ thật sống động trong tâm hồn chị em với lời trăn trối: “Khi chết cha con làm việc nhiều hơn”.

          Lời dạy của Đức Cha Tổ Phụ từ những ngày đầu ấy, nay càng lúc càng vang vọng trong tâm hồn chị em. Càng đọc những bút tích Đức Cha để lại, chị em càng say mê, yêu mến và khâm phục Đấng Sinh Thành của mình; Càng nghiền gẫm những lời lẽ đơn sơ này, chị em càng khám phá ra chiều kích thâm sau và giá trị hiện sinh của những lời giáo huấn và hơn bao giờ hết, chị em xác tín rằng việc nghiên cứu về đời sống, tinh thần, gương sáng và lời dạy của Đấng Sáng Lập là chìa khóa để hiểu và yêu mến Hội Dòng của mình.

Ngày 03-03-1949 Tổng Công Hội đầu tiên tại Trung Linh

          Theo Giáo Luật, khi một dòng mới được thiết lập thì phải có nữ tu đã khấn trong dòng khác đến giúp cho đến khi dòng mới có Tổng Công Hội đầu tiên. Trong 3 năm đầu (1946 - 1949), Hội Dòng được hai chị Dòng Mến Thánh Giá Phát Diệm sang giữ vai trò Bề Trên và Giám Tập. Ngày 03 - 03 - 1949, Tổng Công Hội khóa I được tổ chức tại Trung Linh để bầu ban Tổng Quản Trị cho nhiệm khóa 1949 – 1955. Bà Maria Catarina Nguyễn Thị Huệ được bầu làm Bề Trên tiên khởi của Dòng.

          Về thời gian, bao lâu một người có đầy đủ sự trưởng thành để gánh vác một gia đình? Điều này tuy người, có thể là 20, 25 hay 30 tuổi…Nhưng để gánh vác một Hội Dòng, không phải chỉ có tuổi thể lý nhưng còn đòi hỏi một sự tròn đầy nào đó trong lý tưởng đời tu và sự hiểu biết vê Hội Dòng. Thời gian luôn cần thiết cho kinh nghiệm, cho nhận thức và cho việc luyện tập khả năng để đảm nhận một trách nhiệm.

          Với 3 năm thì quá ngắn để hình thành nên kết quả nào đó cho một đời người. Đối với một hội dòng thì sự cần thiết của thời gian càng thể hiện rõ nết hơn. Tuy nhiên, nếu sự kiện này chỉ được tính toán theo kiểu nhân loại, chúng ta sẽ thấy nguy cơ bế tắc, nhưng “Trời cao hơn đất bao nhiêu thì đường lối của Ta cũng cao hơn đương lối các ngươi, và tư tưởng của Ta cũng cao hơn tư tưởng các ngươi bấy nhiêu ” (Is 55, 9). Thiên Chúa luôn có lý khi cho thấy sự thành công của Ngài ẩn trong những bất lực của con người. Vì thế, điều thú vị ở đây là sau 3 năm thành lập, Hội Dòng đã có những con người ý thức về trách nhiệm và đủ kiên vững để đảm nhận vai trò lãnh đạo trong Hội Dòng. Đây là điều kiện thuận lợi cho sự độc lập và phát triển nhanh của Hội Dòng.

Ngày 15- 07 – 1954 di cư vào Miền Nam

          Với hiệp định Genève 1954, dòng sông Bến Hải trở thành điểm mốc chia đôi đất nước. Ngày 15 – 07 - 1954, 90 chị khấn và 13 em Tập Sinh cùng với đoàn người di cư từ Bắc vào Nam. Ngày 18 – 07 – 1954 con tàu di cư cập bến Bạch Đằng - Sài Gòn bình an. Thiên Chúa đã dự  liệu cho Hội Dòng một không gian là mảnh đất Chí Hòa.

          Cha Bề Trên Giuse Phạm Châu Diên đã liên lạc tìm đất để đưa chị em đến định cư và được cha sở họ Chí Hòa Giuse Phạm Văn Thiên (sau làm Giám mục giáo phận Phú Cường) cùng với giáo dân tiếp đón và giúp đỡ tận tình. Từ đó, Hội Dòng định cư tại số 302 đường Thánh Mẫu (nay là 94 Bành Văn Trân), thuộc giáo xứ Chí Hòa, Giáo Phận Sài Gòn. Trong những năm đầu còn bỡ ngỡ tại quê hương mới này, cha Bề Trên Giuse Phạm Châu Diên đã hết lòng lo lắng về vật chất và củng cố tinh thần tu cho chị em.

          Tự nhiên thì không ai muốn dời bỏ quê cha đất tổ, nơi chôn nhau cắt rốn, bởi vì trong trái tim mỗi con người, quê hương là một tình cảm thiêng liêng, là nơi chào đời và  lớn lên thành người, nơi ngọt ngào những kỷ niệm, nơi có phần mộ của tổ tiên. Hoàn cảnh bĩ cực đòi hỏi chị em một sự biện phân chính xác: ra đi hay ở lại? Sau khi suy nghĩ, cầu nguyện và bàn hỏi, chị em đã lên đường cùng với hàng triệu người vào Miền Nam, như một lời đáp trả tiếng gọi: “bỏ mọi sự mà theo Chúa”. Trước biến cố này, chị em nhận thấy lời Thiên Chúa nói với Tổ Phụ Ap1raham như nói với minh: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (St 12, 1).

          Lịch sử của dân Do Thái xưa cũng là bài học của Hội Dòng trong biến cố này: Từ ơn gọi của Apraham cho đến cuộc xuất hành ra khỏi Ai Cập cùng với bao thách đố trên đường về đất hứa, để cuối cùng thiết lập giao ước với Thiên Chúa và trở thành dân riêng của Ngài. Lịch sử của Hội Dòng hay của từng người cũng được kết bằng những chuyển biến, những đổi thay, tuy sự kiện có khác nhau nhưng luôn có một điểm chung là tìm kiếm và thực hiện ý Chúa trong từng biến có, qua từng chặng đường. Thánh ý Thiên Chúa vẫn luôn đa dạng và kỳ diệu. Những dấu chỉ thời đại luôn biểu lộ thánh ý của Ngài, và đời sống của một hội dòng cũng luôn được biểu lộ trong những tình huống lịch sử khác nhau.

          Ra đi để tìm đến một môi trường xa lạ, với văn hóa, tình thế và nhu cầu xã hội khác hơn trước, chị em đã uyển chuyển thích nghi để tìm thấy niêm an vui trong thái độ phó thác và để tiếp tục hành trình dù chưa biết tương lai sẽ thế nào? Đôi khi trong cuộc sống, có những lúc chúng ta như đi trong đêm tối, không biết mình sẽ đi về đâu, nhưng nếu có ánh sao hy vọng cùng với lòng tín thác chúng ta cũng cứ đi, vì khi sống trong Hội Dòng, chúng ta biết mình đi đúng hướng vì đang phục vụ cho thánh ý Chúa.

Từ 1962 Dòng trực thuộc giáo phận Sài Gòn và những dấu chân đầu tiên tại Hoa Kỳ.

          Theo Thông tư Bộ Truyền Giáo ngày 03 – 05 – 1962, các Hội Dòng di cư thuộc Đấng Bản quyền địa phương. Từ đó Hội Dòng trực thuộc Tổng Giáo Phận Sài Gòn.

          Đến ngày 20 – 02 – 1967, theo lời mời của TGM Philadelphia, 12 nữ tu Mân Côi đã rời đất Mẹ Việt Nam tới Philadelphia, Hoa Kỳ để phục vụ.

          Đáp trả lời mời của Chúa Giê su: “Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho muôn dân” (Mc 26, 15), chị em không ngần ngại mở  cửa nhìn ra những nhu cầu của thế giới. Từ đây, bước chân truyền giáo của người nữ tu Mân Côi bắt đầu tiến xa hơn trên nẻo đường mới để phục vụ Giáo hội theo một cách thức phong phú hơn.

          Những bước chân ban đầu có vẻ nhỏ nhoi, nhưng nhìn lại, đây là nền móng cho những bước phát triển lớn sau này. Phải chăng trong thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa, từ một nhóm nhỏ ấy Ngài đã khơi rộng tầm hoạt động của Hội Dòng và cho tới hôm nay trở thành nhân tố cho việc khai sinh Tỉnh Dòng Nữ Vương Hòa Bình Hoa Kỳ. Cảm tạ Chúa đã “nắn con nên hình nên dạng!”(Tv 118, 73)

Ngày 30 – 04 – 1975, thống nhất đất nước

          Với biến cố 1975,  lịch sử đất nước sang trong, chị em ngậm ngùi và hoang mang trước sự thay đổi chế độ. Tất cả mọi hoạt động trước đây đều ngưng động. Hội Dòng bị mất một số cơ sở là nơi chị em thi hành sứ vụ  giáo dục và là phương tiện sinh sống. Chị em phân tán nhau lên đường đến những miền đất mới chia sẻ cuộc sống với đồng bào địa phương trong những công việc lao động khác nhau, mỗi người tự tìm những công việc thích hợp và từng bước dấn thân vào sứ mạng của Hội Dòng trong công tác giáo dục, tông đồ truyền giáo, mục vụ và xã hội từ thiên nơi vùng đất mới. Vấn đề nhận ơn gọi chỉ là nhỏ giọt, việc đào tạo bị hạn chế do người công giáo không được vào các trường đại học. Việc thuyên chuyển các chị em giữa các cộng đoàn rất khó khăn vì vấn đề hộ khẩu.

          Sau biến cố 1975, mọi sinh hoạt, tổ chức của Hội Dòng phải thích ứng với hoàn cảnh mới. Một mặt, chị em phải hòa nhập với xã hội, mặt khác luôn vững tin vào đường lối của Thiên Chúa và đón nhận hoàn cảnh mới như một lệnh truyền sai đi: “Các con hãy ra đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”(Mt 28, 19). Cuộc sống càng khó khăn,  tinh thần tu của chị em càng vươn cao. Chị em thấm thía hơn con đường “từ bỏ mọi sự mà theo Chúa”. Những năm tháng khó khăn của giai đoạn này không làm chị em bó tay chịu vậy  mà luôn cố gắng tồn tại để bảo vệ đời tu cách tốt đẹp nhất.  

          Trong lúc “bí cực thái lai”, chị em nghiệm ra được những giáo huấn của Thiên Chúa thật tuyệt vời: Ngài không bao giờ lấy đi tất cả, nhưng để huấn luyện, Ngài đặt bên chúng ta những thử thách và cả những cơ hội để vươn lên. Mặc dù có những khó khăn trong nếp sống và trong công việc lúc bấy giờ, nhưng lòng trông cậy vào “Thiên Chúa là Đấng luôn thành tín và yêu thương” (Tv 137, 2) đã giúp chị em không bị quật ngã hay bị tiêu diệt trước những hoàn cảnh nghiệt ngã.

          Nhờ việc phân tán đến những địa điểm khác nhau mà nhiều cộng đoàn được thiết lập do nhu cầu mục vụ tại các giáo xứ. Sau này, một vài cộng đoàn đã trở thành giáo xứ hoặc làm điểm xuất phát cho việc truyền giáo, giáo dục hay cơ sở xã hội từ thiện của Dòng. Hoàn cảnh khó khăn giúp chị dễ làm chứng cho những giá trị Tin Mừng của đời tu như nghèo khó, khiêm tốn, vô vị lợi, khổ chế và gần gũi với mọi người. Chính cách ăn nết ở và lối sống đạm bạc cũng như sự giới hạn trong mọi sinh hoạt đã tạo nên những thuận lợi cho việc loan báo Tin Mừng công khai bằng đời sống, là một hình thức loan báo không lời nhưng lại rất hiệu quả.

          Sự thay đổi sâu rộng trong xã hội lúc bấy giờ cho chị em một kinh nghiệm rõ nét hơn: Khi không còn những điểm tựa bên ngoài như trước thì đời tu trở nên thật hơn và sự dâng hiến được trọn vẹn hơn, vì khi chẳng có gì bảo đảm cho cuôc sống của mình chúng ta mới thực sự thanh thoát theo tinh thần của Tin Mừng và đó là điều kiện để sống an vui và phó thác trong ơn gọi.

Năm 1990, trở lại với sứ mạng giáo dục

          Vào khoảng năm 1990, mọi sự trở nên dễ dàng hơn. Với những nhu cầu thực tế của xã hội, các dòng tu được phép mở các lớp nuôi dạy trẻ. Hội Dòng chuẩn bị cho chị em được đào tạo theo ngành giáo dục và dần dần mở lại các trường lớp để chị em có thể thi hành sứ mạng giáo dục đã bị cắt đứt hơn 15 năm.

          “Sau cơn mưa trời lại sáng”. Nhờ chủ trương “mở cửa” của nhà nước vào khoảng thập niên 90, các cộng đoàn tu đã có thể mở các lớp mẫu giáo nuôi dạy trẻ, một cơ may cho chị em Mân Côi được trở lại với sứ mạng “đào tạo con người”, sứ mạng “dạy chữ để dạy người” như Đức Cha Tổ Phụ đã nói: “nhờ tay thày đào luyện mà trẻ con sẽ nên một ngươi giáo hữu nhiệt tâm, nên một đứa con trung hiếu, nên một học trò thành thân, nên một người dân thuần hậu, nên một người thợ giỏi giang”. (Gs II, tr 121). Đứng trước sứ vụ cao cả này, người nữ tu Mân Côi đã cố gắng làm sang lên thiên chức “làm mẹ” và “làm thày” của các tâm hồn trẻ thơ. Nên mỗi khi cảm thấy công việc đơn điệu và nhàm chán, chị em cố minh giải cho được cái giá phải trả cho việc cộng tác với Thiên Chúa để đổi mới tâm hồn con người. Trước những mệt mỏi, căng thẳng trong công việc, chị em bình tĩnh nhận ra những hạt giống chân thiện mỹ đang âm thầm nảy mầm nơi tâm hôn các em nhỏ. Trước sứ mạng của Hội Dòng, chị em cố gắng thể hiện tư cách của người thày như lời khuyên của Đức Cha Tổ Phụ: “Tư cách người làm thày phải có lòng đạo đức nên gương sáng cho học trò, lại còn phải có đức nết na, hiền lành, vui vẻ, hay chịu khó, hay nhịn nhục và siêng năng ân cần” (Gs I, tr 532), đồng thời chị em cũng dám nhìn thẳng vào những điểm tối để được chữa lành và những điểm sáng để được thăng tiến.

          Với dòng thời gian, Việt Nam bước vào “thời mở cửa”, cuộc sống dân chúng được thoải mái hơn, tôn giáo được tự do hơn, các dòng tu dấn than năng động  hơn trong sứ mạng của mình. Từ lúc này, chị em Mân Côi cũng có nhiều sáng tạo và thích nghi trong các lãnh vực phục vụ khác nhau theo đặc sủng Dòng. Hội Dòng dần lớn lên cả về số lượng lẫn phẩm chất.

Ngày 03 – 10 – 2003, thành lập hai Tỉnh Dòng

          Tổng Công hội khóa XVIII đã quyết định thay đổi cơ cấu quản trị Hội Dòng, tách ban Tổng Quản Trị Trung Ương khỏi cơ cấu quản trị Dòng tại Việt Nam để mỗi Tỉnh Dòng có thể phát triển theo điều kiện riêng của địa phương mà phục vụ hữu hiệu hơn trong sứ mệnh và mục đích của Dòng. Theo hướng đi này, Tổng Công Hội thành lập hai Tỉnh Dòng: Tỉnh Dòng Truyển Tin - Việt Nam và Tỉnh Dòng Nữ Vương Hòa Bình – Hoa Kỳ.

          Trong khi chị em thao thức tìm ra cách tỗ chức phù hợp với một Hội Dòng đang trên đà phát triển để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn thì Tổng Hội XVIII đã mở ra một chặng đường mới qua việc thành lập hai Tỉnh Dòng. Việc thành lập hai Tỉnh Dòng là một đáp ứng hữu hiệu và sáng tạo đối với nhu cầu hội nhập vào một môi trường văn hóa cụ thể nơi chị em cư ngụ, đồng thời cũng nói lên sự trưởng thành của một Hội Dòng và cho thấy Hội Dòng đã trở thành phổ quát hơn. Tương lai và công việc truyền giáo của Hội Dòng sẽ tùy thuộc vào khả năng hiệp thông và sự đa dạng của các thành viên sống trong các Tỉnh Dòng hay các cộng đoàn khác nhau. Trong một Hội Dòng có nhiều thành viên phục vụ trong các miền văn hóa khác nhau thì đặc sủng của Dòng đóng vai trò men trong bột hay như hạt giống gieo vào lòng đất để nảy mầm lớn lên thành cây và trổ sinh hoa trái làm nên sự lớn mạnh và sức sống tươi trẻ của Hội Dòng.

          Vì thế, khi sinh sống và phục vụ trong những môi trường khác nhau, thì vai trò của chị em Mân Côi cũng tựa như người phiên dịch, làm sao cho Tin Mừng Chúa Giê su và tinh thần tu của mình được những người chung quanh biết đến và hiểu được lý do hiện hữu của Hội Dòng. Điều này đặt chị em trước một vấn nạn: Làm sao truyền đạt những giá trị cốt yếu của đặc sủng Dòng mình bằng chính ngôn ngữ và phong cách dễ hiểu đối với những con người nơi mình cư ngụ? Người ta thường nhìn vào hiện tại của một người để hiểu được nguồn gốc của người ấy ra sao. Vậy giữa cái “giống” và cái “khác” đương nhiên phải có ấy, chúng ta cần có thái độ sống vơi mọi người và với nhau như thế nào khi chúng ta chung một nguồn gốc nhưng lại cách xa về địa lý?

Tổng hội canh tân 2004

          Ngày 21 – 10 – 2004: Tổng Công hội XIX, canh tân Hiến Luật Dòng, tổ chức tại trụ sở Tỉnh Dòng Truyền Tin – Chí Hòa, Sài Gòn, soạn thảo lại Hiến Luật chung cho toàn Dòng. Hiến Luật mới được Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Tổng Giám Mục giáo phận Sài Gòn phê chuẩn ngày 01- 01 – 2005. Kể từ đây Dòng mang tên: “Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi – Chí Hòa”, gọi tắt là Dòng Mân Côi Chí Hòa.

          Theo dòng thời gian, luật dòng luôn được canh tân để một mặt, trở về với tinh thần của Đấng Sáng Lập; mặt khác, thích ứng với nhu cầu mới của con người.  Bản Hiến Luật này đã được khởi sự từ nhiều năm, nhưng do sự bất ổn của xã hội cũng như hoàn cảnh sống luôn thay đổi của chị em, đến hôm nay, nhân cơ hội thay đổi cơ cấu quản trị trong Dòng, cuốn hiến luật mới được hình thành và phê chuẩn để hướng dẫn chị em sống cụ thể đời tu của mình theo cơ cấu mới này.

          Có thể nói, cuốn Hiến Luật hiện nay đã thay đổi nhiều so với cuốn luật phép Dòng số 1 và 2 do Đức Cha Tổ Phụ soạn thảo nhưng trong đó ta vẫn thấy tâm tư và nguyện vọng của Đức Cha là muốn cho con cái sống thánh thiện qua việc tuân giữ luật Dòng: “Càng giữ luật co chín chắn, càng nên thánh thiện”(Gs I, tr 316), hay “Phương pháp giúp chị em được nên thánh thiện hệ tại các việc thiêng liêng và luật phép nhà”(HL 34. 2; GS I, tr 314). Qua những khoản luật, ngài mời gọi con cái ý thức những giá trị cao quý của đời tu bằng việc sống tích cực tinh thần, mục đích và sứ mạng của người nữ tu Mân Côi. Chị em đón nhận Hiến Luật trong tâm tình yêu mến và tích cực thi hành.

Tổng Hội 2007 và 2011

          Cuốn Hiến Luật mới đã xác định hướng đi trong tương lai của Hội Dòng theo cơ cấu quản trị mới. Từ đây, hai Tỉnh Dòng có thể phát triển và lớn mạnh theo hoàn cảnh cụ thể của mình dưới sự điều hành của Trung Ương Dòng.  Tổng hội bầu cử 2007 và 2011 vẫn tiếp nối tinh thần và cách tổ chức của Tổng hội 2004.

Thay lời kết

          Khi điểm lại những cột mốc lịch sử đáng ghi nhớ của Hội Dòng, ta thấy chặng đường đã qua là một hành trình của ân sủng và tình thương. Chúng ta chỉ biết cảm mến tri ân và hết lòng ngưỡng mộ những việc Chúa đã thực hiện cho chúng ta: “Việc Chúa làm cho ta, ôi vĩ đại, ta thấy mình chan chứa một niềm vui”(Tv 125, 3).

          “Những việc Chúa làm”, cho tới hôm nay và mãi về sau vẫn tiếp tục vì thế tâm tình tri ân của chúng ta được nối dài từng ngày trong cuộc sống bởi biết rằng lịch sử dù thăng hay trầm thì cũng luôn có bàn tay Chúa dẫn đưa, vì “Ngài làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Ngài, tức là cho những kẻ được Ngài kêu gọi theo như ý Ngài định”(Rm 8, 28).

           Khi nhìn lại lịch sử Hội Dòng, chúng ta còn nhận ra bóng hình từ mẫu của Mẹ Maria Mân Côi đã từng bước song hành và chở che đoàn con cái trên mọi nẻo đường. Chúng ta cũng ghi khắc và sống đậm đà tâm tình biết ơn đối với Đấng Sinh Thành và các bậc tiền bối đã để lại bao tấm gương nhân đức và một gia sản phong phú giúp cho Hội Dòng tự tin tiến bước. Điểm lại quãng đường các ngài đã đi qua, chúng ta biết mình phải tiếp bước như thế nào trong tương lai để xứng đáng phận con cháu.  Vẫn biết rằng mọi thành công đều bởi quyền năng của Chúa chứ không do tài cán của cá nhân con người, nhưng Chúa vẫn dung con người, dù rất yếu đuối để tiếp tục công trình của Chúa.

          Nhìn về quá khứ cũng là để thấy rõ hơn Vườn Hồng Mân Côi đã có được sức sống dồi dào như hôm nay là do công  khó của các Bề Trên Cựu và đương nhiệm cũng như các chị hữu trách trong những thời điểm khác nhau, đã hết mình vun xới cho Hội Dòng mỗi ngày thêm đẹp và mới. Sau cùng, khi dừng lại để soi mình trong quá khứ, chị em có dịp nhìn lại “chân dung” của mình để can đảm xóa đi những vết nhăn những gì khó thương và biết cách sống cho xứng đáng với ơn gọi của mình, đồng thời cũng biết tích cực đóng góp phần nhỏ bé của minnh2 vào công trình chung của Thiên Chúa. Với đà sống phức tạp của một xã hội tục hóa và đề cao hưởng thụ cá nhân như hôm nay, Hội Dòng rất cần những con người biết dấn thân, dám đẩy lui sự an nhàn cá nhân mà ưu tiên cho sứ vụ của Hội  Dòng. 

Nt Marie Rose Vũ Loan, FMSR