TINH THẦN SỐNG THÁNG 12-2018

TRUNG THÀNH VỚI ƠN GỌI MÂN CÔI

 

 

I. TRUNG THÀNH LÀ GÌ?

 

Trung thành nói chung, là lòng tin tưởng và trung tín chúng ta có đối với nhau. Trong lãnh vực đời tu, trung thành là sống thực với bản chất ơn gọi đời thánh hiến, là sống đúng với những gì mình đã cam kết với Chúa, là cố gắng gìn giữ mối giây quan hệ cá nhân của chúng ta với Thiên Chúa, là bền bỉ tự nguyện sống cuộc đời thánh hiến hàng ngày trong giao ước tình yêu, hầu có thể trở nên đồng hình đồng dạng với đức Kitô mỗi ngày một hơn.

Nói một cách khác, đời tu dẫn chúng ta vào trong một giao ước tình yêu, và trung thành trong giao ước là điều phải được trân trọng. Nhưng đôi khi chúng ta tự hỏi: có thể sống trung thành đến cùng được không? Nếu chúng ta chỉ dựa vào sức lực riêng mình, thật khó mà trả lời! Nhưng lòng trung thành tìm được sự hỗ trợ của nó trong sự trung tín của Thiên Chúa. Đôi khi lời đáp trả của chúng ta không chắc chắn, yếu kém, bất trung…, nhưng không vì lý do đó mà Thiên Chúa chấm dứt giao ước với chúng ta; Ngài không hủy bỏ giao ước của Ngài. Trái lại, qua giao ước, Thiên Chúa kết hiệp chính Ngài với chúng ta như một đối tác đáng tin. Vì thế, vấn đề ở đây không phải là sức lực của chúng ta kéo dài bao nhiêu, nhưng là sức mạnh của Thiên Chúa kéo dài mãi mãi. Lịch sử cứu độ đã chứng minh sự trung tín của Thiên Chúa, một Thiên Chúa luôn trung thành. Điều đó khiến chúng ta tin tưởng, bởi vì chúng ta biết rằng, bất chấp chúng ta yếu đuối, một khi Thiên Chúa đã khởi sự công trình của Ngài nơi chúng ta, Ngài sẽ bảo kê cho nó được hoàn tất. Mặc dù những bất trung của chúng ta, Ngài vẫn trung thành, bởi vì Ngài không thể chối bỏ chính mình. Sự trung thành của Thiên Chúa là nền tảng sự trung thành của chúng ta. Chính sự trung thành của Thiên Chúa mới làm cho sự trung thành của chúng ta có thể được[1].

 

II. TRUNG THÀNH VỚI ƠN GỌI MÂN CÔI

 

Để có thể trung thành đáp trả ơn gọi Mân côi, chúng ta cần phải để cho cảm thức về căn tính Mân côi luôn sáng tỏ trong nội tâm mình. Đây là ý thức rõ ràng mình được mời gọi cam kết đi vào trong giao ước tình yêu, qua một con đường cụ thể và đặc thù, đó là “với tinh thần đức ái hoàn hảo, cùng mẹ Maria sống mầu nhiệm cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người”[2].

Trung thành với cảm thức về căn tính Mân côi, nghĩa là chúng ta được mời gọi phải luôn tỉnh thức với những yêu sách của đời thánh hiến ngang qua chứng từ cuộc sống theo ý Đấng Sáng lập, bằng việc trung thành tuân giữ kỷ luật và ba lời khấn Dòng, bằng kiên trì tỏa chiếu niềm vui và vẻ đẹp của tình chị em chân chính, trong sự hiệp thông huynh đệ cộng đoàn như trong một gia đình[3], một tình hiệp thông có sức nói lên lời chứng về đức bác ái, đức khiêm nhường không giả dối, không tự đề cao mình, nhưng luôn yêu mến và phục vụ.

Đi đôi với chứng tá đời sống thánh hiến và cộng đoàn, chúng ta thể hiện căn tính của mình qua việc làm chứng tá trong thi hành sứ vụ, dưới sự chi phối của linh đạo Hội dòng. Với một phong cách sống yêu thương vô vị lợi và không tính toán, chúng ta đến với mọi người, đặc biệt những ai khốn khổ nghèo hèn. Làm sao để qua thái độ phục vụ Tin mừng, chúng ta nói lên được “lời chứng tá thực sự có sức lôi cuốn nhưng lại ít phổ biến, đó là lòng quảng đại vô vị lợi, sự hy sinh, quên mình. Nó như “tiếng chuông cảnh tỉnh” cho con người, vì nó đã vượt lên trên ranh giới phàm trần”[4]. Bên cạnh đó, chúng ta cần phải duy trì ý thức về sự hiện diện đầy tình mẫu tử của đức Maria Mân côi trên hành trình dâng hiến và sứ vụ, như một trợ giúp lớn lao mà chúng ta ân cần đón nhận như gia bảo[5].

Nếu một lúc nào đó, cảm thức về căn tính Mân côi bị mờ nhạt hay thậm chí mất hẳn đi, thì chúng ta có nguy cơ rơi vào bội tín! Nếu ơ hờ với những sứ vụ của đời thánh hiến Mân côi, việc sống ơn gọi Mân côi, không chỉ mất căn tính riêng của mình, nhưng chúng cũng đặt sự trung thành của chúng ta vào mối nguy hiểm. Nhất là nguy hiểm càng gia tăng khi ta thừa nhận và đề cao cá nhân chủ nghĩa, được ẩn nấp tinh vi dưới hình thức gọi là "khuôn mẫu tự do" trong đời sống thánh hiến.

Còn có một lý do thực tế, rất nguy hại cho ý chí trung thành mà đức cha Tổ phụ gọi là “tính nhát hèn”, nghĩa là “khi gặp sự gì khó liền sờn lòng rủn chí. Khi đã sờn lòng rủn chí thì ra như không muốn rán sức nữa…”

Tính nhát hèn, theo đức cha Tổ phụ, chính là trình trạng thiếu kiên nhẫn, thiếu ý chí phấn đấu cho một mục tiêu cao đẹp! Thực vậy, không kiên nhẫn thì không gì có thể thành công! Đi trong hành trình dài, ngày này qua ngày khác, năm này tới năm kia, chúng ta không tránh khỏi những mệt mỏi, chán chường, những lo toan trong bổn phận, những đổi thay tâm sinh lý… Cùng với thời gian là thói quen đi vào cuộc sống, làm cho nhịp độ các sinh hoạt hàng ngày, kể cả giờ cầu nguyện cũng có nguy cơ máy móc. Sự khô khan, nguội lạnh dẫn đến thiếu nhiệt huyết tông đồ, dửng dung với những dự phóng của cộng đoàn, chán bỏ cầu nguyện vì không cảm thấy gì... Từ đó sự bất trung xảy ra là có cơ sở. Vì thế nên đức cha Tổ phụ nhắc nhở, để chống lại tính nhát hèn, ta phải “vững vàng và trung tín trong mọi việc lành”, mà Ngài coi đó là nhân đức trọng yếu[6].

Để có thể “vững vàng và trung tín trong việc lành”, thiết nghĩ, phải hun đúc lòng nhiệt thành thuở ban đầu[7]. Nghĩa là lửa nhiệt tâm phải được liên tục nuôi dưỡng để luôn cháy, và không ngừng giữ được sức nóng, hầu có được trái tim bừng cháy tình yêu dành cho đức Kitô và cho tha nhân, hầu luôn hăng say và quảng đại trong yêu thương phục vụ, để nó không thành đống tro tàn do lối sống khô khan, nguội lạnh và vô ý thức. Bởi một khi đã buông xuôi theo cuộc sống tẻ nhạt, thụ động, bù trừ bằng việc tìm đời sống tiện nghi, tìm sự dễ dãi và ngại dấn thân, thì sớm muộn đời tu chúng ta cũng thành cây trốc gốc, sẽ bất trung với ơn gọi, và chối bỏ căn tính của mình. Đức cha Tổ phụ đã cảnh báo chúng ta: “Từ sự ơ hờ này đến sự ơ hờ khác, từ lỗi này đến lỗi khác, chị sẽ rơi vào vực sâu tội lỗi. Chày kíp chị sẽ chán ơn kêu gọi mà bỏ không trung tín trong những nhiệm vụ về ơn ấy”[8].

 

III. LUYỆN TẬP SỐNG TRUNG THÀNH

 

Bao lâu còn sống trên mặt địa cầu, đừng quên rằng chúng ta chưa vững vàng trong ân sủng, lòng trung thành của chúng ta còn gặp thách đố; Nhất là chúng ta đang sống trong một thế giới liên lỷ thay đổi và chính chúng ta đang thay đổi, nên không thể biết sự cam kết của chúng ta có dứt khoát hay không? Chỉ có sự trung thành ngày qua ngày là điều mà, với ơn Chúa, chúng ta có thể đảm bảo. Đó không phải là chuyện ở lại (vẫn còn) trong sự trung thành, nhưng là trở nên trung thành mỗi ngày. Cũng vậy, khi chúng ta nói “mãi mãi” trong tuyên khấn tu trì, chúng ta không minh xác điều sẽ xẩy ra, nhưng minh xác điều chúng ta muốn xẩy ra. Vì thế, đảm bảo phải đáp lại Thiên Chúa từng ngày, thậm chí từng khoảnh khắc quả là thiết yếu. Thực ra, trung thành là cố gắng gìn giữ, là không cắt đứt mối dây quan hệ. Nhưng nếu làm đứt mà thiết tha nối chắp lại thì đấy mới càng chứng tỏ ý nghĩa sâu xa của lòng trung thành… Cho nên trung thành không hẳn là không bao giờ lỗi phạm, mà là từ lỗi phạm, ta trở về với Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta biết rằng Người đang yêu chúng ta. Vì vậy, sự trung thành không thể có được một sớm một chiều, nhưng đòi một hành trình thao luyện để cộng tác với ơn Chúa. Có một số nhân đức cần thiết, liên quan tới việc thao luyện đức trung thành mà đức cha Tổ phụ gọi là “những phương thế cho được ơn bền vững”, ngài tha thiết kêu gọi chúng ta hãy quan tâm thao luyện.

 

1. Kiên trì cộng tác với ơn Chúa

 

Đức cha Tổ phụ mời gọi chị em phải biết “gớm ghét sự tội và thành thực cộng tác với ơn Chúa cách mau chóng, rộng rãi, và vững vàng” [9]. Theo đức cha Tổ phụ, cộng tác với ơn Chúa, là “một điều buộc lương tâm”, đó là phải cố gắng trung tín hay ngoan ngoãn đi theo những linh hứng của Chúa Thánh Thần, được biểu lộ ra cho chúng ta dưới bất cứ hình thức nào. Thực vậy, không có ân sủng Chúa, chúng ta hoàn toàn không thể làm bất cứ công việc gì trong trật tự siêu nhiên[10]. Không có sự trợ giúp của Chúa, con người không thể tưởng nghĩ điều thiện và thậm chí không thể kêu cầu Danh đức Giêsu cách xứng đáng[11]. Tuy nhiên cần phải nhớ rằng, Chúa tốt lành và nhân hậu vô biên, nhưng Ngài cũng công bằng vô cùng[12]. Ngài sẵn sàng cứu giúp, nhưng với điều kiện chúng ta phải cộng tác với ân sủng của Người[13].

Cộng tác với ân sủng Chúa cùng đồng nghĩa với việc cố gắng hết mình, nghĩa là làm với tinh thần trách nhiệm cao, đồng thời tin tưởng rằng sự trợ giúp của Thiên Chúa không bao giờ thiếu. Mặt khác, chúng ta không thể phàn nàn vì không nhận được sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần qua tác động của ân huệ can đảm, nếu chúng ta chưa làm mọi việc chúng ta có thể và phải làm. Vậy chúng ta phải cầu nguyện như thể mọi việc đều phải lệ thuộc vào Thiên Chúa, nhưng chúng ta cũng phải cố gắng như thể mọi việc đều lệ thuộc vào chính chúng ta. Theo một nghĩa nào đó, đây là nền tảng của đời sống Kitô hữu, vì nó xác định một người sẽ tiến bước vững vàng đến đỉnh cao của sự thánh thiện hay không.

Ngoài ra, cộng tác với ơn Chúa còn có nghĩa là bền bỉ sống tinh thần hoán cải. Đức cha Tổ phụ cho chúng ta một cách hiểu thế nào là hoán cải: “Nếu chị bị cám dỗ lôi kéo mạnh quá mà chị đã rủi ro sa ngã, chị đừng ngã lòng bao giờ, một hãy chỗi dậy ngay…” Đúng vậy, hoán cải là ơn Thiên Chúa ban, nhưng nó cũng tùy thuộc nơi ý chí hướng thiện và sự cộng tác của con người. Cụ thể, cần tập thói quen bắt đầu lại và lại bắt đầu lại trên hành trình đi theo Chúa mỗi ngày. Đây là thói quen cầu xin và lãnh nhận ơn tha thứ của Chúa song song với việc hoán cải hằng ngày, biết từng ngày thay đổi chính mình, để có thể bắt đầu sống một cuộc đời trong sạch, với một lương tâm ngay thẳng và một cõi lòng thanh khiết hơn. Kết quả là thói quen này, mỗi ngày một chút, trở nên mạnh mẽ hơn thói quen bất trung, dù chỉ là những tội nhẹ hoặc những khuyết điểm, thiếu sót.

 

2. Trung thành giữ kỷ luật

 

Chính kỷ luật trong Dòng là phương thế giúp chị em trung thành với căn tính Mân côi. Vậy “chị em phải giữ mọi kỷ luật nhà, không phân biệt luật trọng luật nhẹ, và phải giữ cách trọn lành như tinh thần luật đòi hỏi”[14]. Thực vậy, theo đức cha Tổ phụ, kỷ luật không chỉ là giữ những khoản luật suông một cách thiếu ý thức, nhưng phải có tinh thần bề trong. Kỷ luật nhắm trước hết là kỷ luật bản thân, và phải thể hiện được sự tự do nội tâm đích thực, nghĩa là giữ luật vì yêu mến thánh ý Chúa, chứ không dừng lại ở thói quen hoặc miễn cưỡng vì “không làm khác được”.

 

3. Trung thành thực hành khổ chế tự nguyện

 

Đức cha Tổ phụ cũng khuyên dạy: “Hãy tỉnh thức, hãy cầu nguyện, hãy hãm mình…” Mục đích của việc hãm mình là làm cho chúng ta trở nên mạnh sức để đối phó với cám dỗ bất trung, và bằng cách đó, giúp cho nhân đức phát triển. Ngoài ra, mục đích của việc từ bỏ mình là để kiểm soát khuynh hướng tự nhiên yêu mình thái quá, ham muốn tìm thỏa mãn bản thân, và để vun trồng tình yêu trao tặng cách rộng lượng. Mặc dù có khó khăn ban đầu, nhưng sau đó việc thực hành khổ chế có thể trở nên bản tính thứ hai, và ở cấp độ đó, người ta đạt được sự bền vững và trung thành. 

 

4. Cầu nguyện không ngừng

 

Hãy thâm tín rằng, chúng ta chỉ sống trung thành được, nếu có một đời sống nội tâm và cầu nguyện, dù ngay cả khi chúng ta yếu đuối, cũng vẫn cậy tin và đắm mình trong kinh nguyện. Các tác giả tu đức đưa ra một luật tối hậu về cầu nguyện và luật này không liên quan gì đến phương pháp, nội dung… Đơn giản chỉ là cầu nguyện! Bất kể cầu nguyện chung hay riêng, khẩu nguyện hay tâm nguyện… Điều quan trọng là kiên trì và trung thành trong mối liên hệ với Thiên Chúa, đặc biệt là trong những tình trạng khô khan, khó khăn, đau khổ và vắng mặt rõ ràng của Thiên Chúa. Nếu chúng ta vẫn một mực cầu nguyện, bất chấp những cám dỗ bỏ cuộc, cuối cùng thì Chúa sẽ ban cho ta ơn bền đỗ.

 

5. Kiên trì thao luyện những nhân đức liên quan đến ơn gọi Mân côi

 

-  Thao luyện “đức ái trọn hảo”

Đức cha Tổ phụ muốn rằng tinh thần đức ái phải là nhân tố quan trọng tạo nên sinh lực và sức mạnh cho bản thân người nữ tu và cho cộng đoàn Mân côi. Ngài gọi nhân tố ấy là “Tôn chỉ”[15], là “Nhân đức riêng”, là “Linh hồn” của chị nữ tu Mân côi[16]. Chính nhờ bởi nhân tố này, tinh thần tự hiến cho nhau được tỏ lộ, và tình hiệp thông trong Chúa Kitô được vun đắp trong đời sống cộng đoàn. Mặt khác, mỗi chị em sẽ khởi đi từ nhân tố này mà tìm ra những phương thức độc đáo phù hợp với tính cách riêng mỗi người, để thể hiện mối tương quan liên vị như: tôn trọng, tin tưởng, phục vụ, xây dựng, cảm thông, kính phục và khuyến khích lẫn nhau.

Nhân tố ấy hôm nay, ngày ngày, chị em cùng nhau xướng lên để nhắc nhở nhau như một khí cụ cần phải mang theo mình trong suốt ngày sống, để cùng với đức Maria, nhờ Chúa Thánh Thần mà xây dựng tòa nhà thiêng liêng của mình. Đó là đức ái trọn hảo.

Gọi là đức ái trọn hảo, vì có lẽ cả cuộc đời chúng ta cũng chẳng bao giờ thực thi được đầy đủ mười điều răn của Chúa, được tóm lại trong một điều chính là đức bác ái. Nhưng đức cha Tổ phụ nhấn mạnh như một lệnh truyền là, chị em “phải hết sức bình sinh mà tiến tới bậc trọn lành ấy”. Và như thế, chúng ta hiểu ra rằng, nếu không cố gắng hết sức để tập luyện đức ái trọn hảo, thì chúng ta không phải là “chị em dòng Bác Ái con Đức Mẹ Mân Côi!”[17]

Đàng khác, gọi là “đức ái trọn hảo” vì những nghĩa cử cao đẹp nhưng cực kỳ khó mà đức cha Tổ phụ khuyến dụ như: “thanh thản với kẻ ương chướng”, “bình tĩnh an vui khi gặp trái ý”[18], “nhịn nhục chị em”…vv [19], là những cử chỉ, thái độ đòi chúng ta phải cố gắng vượt trên mức bình thường, và phải nhờ đến ơn can đảm của Chúa Thánh Thần mới có thể làm được[20]. Vì vậy, nhiệm vụ thao luyện đức ái trọn hảo luôn phải đi đôi với một hình thức khổ chế đặc thù, đòi hỏi hoán cải liên tục bằng một tinh thần hy sinh, can đảm mài giũa cái tôi ngay trong từng nếp nghĩ, từng cử chỉ thái độ, từng lời qua tiếng lại giữa chị em với nhau, kể cả đối với người ngoài.

 

- Trung thành suy niệm và sống các mầu nhiệm kinh Mân côi

Đi theo ơn gọi Mân côi, cùng với tinh thần đức ái trọn hảo, chúng ta còn được mời gọi cùng với mẹ Maria sống mầu nhiệm cứu độ và mang ơn cứu độ đến cho mọi người. Trong thực hành, đức cha Tổ phụ muốn chúng ta cần phải khởi đi từ việc thực hành đọc kinh Mân côi hàng ngày cách “ý tứ thâm trầm”. Nghĩa là “chị em phải đọc kinh lần hạt với lòng mến… và hằng trông xem Chúa ở trước mặt…”[21]. Rồi ngày qua ngày, nhờ việc cùng mẹ Maria bền bỉ chiêm ngắm với lòng mến như vậy, các mầu nhiệm đời Chúa dần dần thấm sâu vào lòng ta, biến những tâm tình, cảm nghĩ trong khi chiêm ngắm thành hành động cứu độ trong cuộc sống[22].

 

6. Cầu xin ân huệ can đảm

 

Ơn can đảm là một trong bảy ơn Chúa Thánh Thần và rất cần thiết để bền đỗ trong tình trạng Ân sủng. Nếu ta không biết hàng ngày xin ơn can đảm Kitô giáo, trong khi chấp nhận những khó chịu và những thử thách nhỏ mọn, những xung khắc và bội bạc, chúng ta sẽ không thể trung thành với những phận vụ lớn lao hơn. Nên nhớ rằng, để chịu đựng cái chết tử đạo trong chốc lát, không cần lòng can đảm lớn hơn là chịu tử đạo dai dẳng trong việc thực hành nhân đức một cách anh hùng và chu toàn nhiệm vụ hàng ngày, ngay cả những chi tiết nhỏ nhất cho đến cùng.

 

Kết luận

 

Đức cha Tổ phụ nhắn nhủ chúng ta: “Triều thiên không phải là hứa cho kẻ đã bắt đầu tốt, một là cho kẻ sẽ sống một cuộc đời thánh thiện cho tới ngày sau cùng”. Thực vậy, bền đỗ đến cùng là ân sủng đặc biệt mà công đồng Trentô gọi là “ân huệ lớn lao”[23]. Chúng ta chỉ có được ân huệ này nhờ biết cầu xin cùng với sự cộng tác tối đa của mình. Trong thực tế, sống ơn gọi Mân côi là hành vi đáp trả gói trọn con người chúng ta, nhào nặn chúng ta theo cung cách và ý hướng ban đầu của đức cha Tổ phụ. Tuy nhiên, hành vi này không chỉ dừng lại ở những giây phút nồng nàn cảm tính. Nhưng quan trọng và hơn thua là cả một cuộc sống liên lỉ trung thành, trải dài từng giây phút vui buồn lẫn lộn, với những thành công thất bại. Chính sự trung thành là thước đo của lòng tin. Nếu chúng ta vẫn bền bỉ thâm tín sâu xa ơn gọi của mình, với đức tin có chiều sâu, và tuyên xưng đức tin ấy cách can đảm, mặc dù con đường có lắm chông gai và nhiều vấp ngã…, thì những năm tháng đời tu sẽ dần trôi qua trong niềm bình an và phó thác. Lúc đó chúng ta sẽ xác tín chân lý này: Chúa vẫn luôn đồng hành với chúng ta, và chỉ có Chúa là vĩnh cửu mà thôi. Vậy chúng ta hãy luôn lặp lại lời cầu xin mà đức cha Tổ phụ khuyên dạy: “Lạy Chúa, Chúa đã ban ơn kêu gọi con vào phục vụ Chúa, xin cũng hãy ban cho con ơn vững vàng trong ơn kêu gọi cho tới giờ lâm chung”. Đặc biệt, chúng ta còn có mẹ Maria làm mẫu gương, khi được hân hạnh cùng dấn thân với Mẹ trong hành trình cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu với lời xin vâng trọn vẹn. Mẹ đã tuyệt đối trung thành trong mọi hoàn cảnh với lời xin vâng đó, ngay cả những lúc Mẹ chẳng hiểu gì. Xin Mẹ dẫn dắt chúng ta đi trong nẻo đường giao ước tình yêu, với lòng tin yêu, phó thác và trung thành với Ân sủng như Mẹ. Bởi chúng ta chỉ có được lòng trung thành này nhờ biết noi gương Mẹ, là Đấng mà đức cha Tổ phụ đã muốn chúng ta phải cậy dựa vào, để có thể bền đỗ trong ơn gọi của mình[24].

 

Maria Trần Thị Nên, Fmsr

 

 


[1] x. FRANCESCO CEREDA, Trung thành với ơn gọi; Suy niệm Salêdiêng…

[2] HL 4. 2

[3] x. GMCT, I, 3; GSD1, tr. 328; LPII, XXIII; tr. 515

[4] x. Đức BENEDICTO XVI, Bài giảng trong Thánh Lễ khai mạc Thượng Hội đồng Giám mục khu vực Châu Mỹ Latin và khu vực bao gồm các đảo và quốc gia vùng Caribê

[5] VNTLG, XI, 5; GSD1, tr. 311

[6] MNT, Lời mở đầu; GSD1, tr. 408

[7] Kh 2, 4-5

[8] MNT, III; GSD1, tr. 419-420

[9] MNT VI, 1-2; GSD1, tr. 423-435

[10] Ga 15, 5

[11] 1Cr 12, 3

[12] Gl 6, 7

[13] 1Cr 15, 10

[14] HL 34. 2

[15] LP I, I, 1; GSD1, tr. 82

[16] x. BTCND; Nhân đức phải thi hành…, 2; GSD1, tr. 397

[17] NVBT, II, II, 10; GSD1, tr. 150

[18] VNTLG, II, 3, GSD1, 189

[19] BTCND, Nhân đức phải thi hành… 4; GSD1, tr. 399

[20] VNTLG, II, 7; GSD1, tr. 192

[21] Như trên, VII, V; GSD1, tr. 277-279

[22] x. thêm “Tâm thư tháng 10- 2018”; Web site Dòng Mân côi Chí hòa.

[23] DENZ. 1572

[24] Luật phép nguyên thủy, GSD1, I, 1, tr. 82