theo dấu chân đấng tổ phụ


THEO DẤU CHÂN ĐẤNG TỔ PHỤ

M. du Sacré Coeur

Con người ngày nay đang phải sống trong bối cảnh xã hội mà các giá trị vật chất được đề cao, còn các giá trị đạo đức và siêu nhiên dường như bị coi thường. Đó là một trong những nguyên do khiến nền đạo đức đang bị giảm sút cách trầm trọng. Đồng thời, con người còn phải đối mặt với một nền văn hóa tạm thời khiến người ta không còn trung thành trong ơn gọi hôn nhân cũng như ơn gọi tu trì. Người tu sĩ, cách riêng là người nữ tu Mân Côi cũng không nằm ngoài cái quỹ đạo ấy, nên có thể rơi vào tình trạng lấp lửng hay mất hướng nếu không ý thức lại giá trị căn bản và nền tảng của đời thánh hiến. Công đồng Vaticanô II định nghĩa người tu sĩ là “Người Đi Theo Chúa” chứ không phải là người đi tìm một công việc để làm hay một nơi chốn để nương thân. Đức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận đã nói: “Tôi đi tìm Chúa chứ không phải tìm công việc của Chúa”. Thật vậy, con đường theo Chúa Giêsu không hệ tại chức vụ hay công việc, nhưng là một tình yêu ngày càng thâm sâu với Chúa khiến người tu sĩ có khả năng dấng hiến trọn vẹn con người của mình. Vậy người nữ tu Mân Côi chúng ta phải sống như thế nào và chọn lựa ra sao, để có thể trung thành với lý tưởng đời thánh hiến và có thể dâng hiến trọn vẹn trong khi hằng ngày vẫn phải đối diện với những thực tại trần thế?

Nói đến các phương thế để giúp người tu sống thánh thiện và ngày càng tiến sâu vào mầu nhiệm Hiến Dâng, chúng ta không thể không nhắc đến giáo huấn về “Sự Sống Bề Trong” của Đức Cha Tổ Phụ chúng ta. Đây là một trong những giáo huấn đơn sơ nhưng lại có giá trị nuôi dưỡng tinh thần tu trì và giúp cho đời sống của người tu sĩ sinh nhiều hoa trái thánh thiện.

1.    Tại sao phải sống bề trong?

Ai cũng biết và cũng hiểu, tu sĩ là người thuộc về Chúa cách đặc biệt. Vì mến Chúa mà người ta đi tu. Vì thế, Chúa phải chiếm chỗ nhất trong đời người tu sĩ. Ngày nào cái thế đó bị đảo ngược, ngày đó tu sĩ không còn đi đúng con đường đã chọn nữa . Khi lòng tu sĩ đầy Chúa thì tự nhiên không còn chỗ cho những thứ khác. Ngược lại, khi tu sĩ chỉ sống hời hợt cho Chúa thì lòng người ấy trở nên một thứ ngã ba ngổn ngang trăm mối và là một mảnh đất thuận tiện cho những cuộc đột nhập nguy hiểm của danh lợi, dục. Khi lòng không đầy Chúa, trần gian sẽ vào thay thế. Vì vậy, để có Chúa trong lòng thì người tu sĩ cần phải có đời sống nội tâm cầu nguyện, mà theo ngôn ngữ của Đức Cha Tổ Phụ chúng ta đó chính là “sự sống bề trong”. Đức Cha định nghĩa: “ Sống bề trong là hằng sống liên mãi trước mặt Đức Chúa Trời và kết hợp cùng Người liên.” (GSI, 247).

Thật vậy, người sống bề trong thì luôn nhớ mình ở trước mặt  Chúa, biết nhắc trí, nhắc lòng kết hợp cùng Chúa khi đang học hành, làm việc, giải trí hoặc theo hoàn cảnh mà nhớ đến Chúa cho được kết hợp cùng Người để lấy sức thiêng liêng, lấy sự an ủi mà làm việc mình đang làm, hay là chịu khó mình đang chịu. Như thế, việc nặng cũng ra nhẹ, điều khó cũng ra dễ, vì kết hợp cùng Chúa mà làm mà chịu, cho nên ra như có Chúa đồng làm đồng chịu với mình. Người ấy có thể nói được như Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2, 20). Các Thánh xưa cũng đều theo cách ấy mà nên Thánh. Do đó, ai càng kết hợp vối Chúa liên lỉ thì càng tiến bước trên đỉnh trọn lành. Vì xác sống và hành động, kết hợp với linh hồn thì linh hồn được sống trong ơn thánh, và được hoạt động trong đàng trọn lành kết hợp bởi Đức Chúa Giêsu vậy. (x. GS I, 249)

2.    Sống bề trong giúp nuôi dưỡng đời sống thánh thiện.

“Ai biết sống thiêng liêng bề trong, ấy là kẻ biết lập nước Đức Chúa Trời ở giữa lòng mình vậy” (GS I, 249)

Sự sống bề trong được ví như hơi thở của người tu sĩ. Có sống thì có thở, có thở mới hấp thụ khí vào cho được sống. Sống thiêng liêng bề trong cũng vậy, phải thở và phải thở cho đều chớ khi nào liều mình mà không thở. Ví như xác đang thở thì cũng làm việc như thường với hơi thở, không ngăn trở gì. Nay hồn sống thiêng liêng bề trong cũng vậy, thở cứ thở, việc làm cứ làm.

Vậy hồn thở làm sao? Thở là thở than, thầm thĩ trong  lòng. Thở than, thầm thĩ với Chúa câu nọ câu kia như: Tôi sống mà chẳng phải tôi sống, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi. Tôi làm mà chẳng phải tôi làm, bèn là Chúa Giêsu dùng tôi mà làm. Tôi nói mà chẳng phải tôi nói, mà là Chúa Giêsu dùng miệng tôi mà nói. Tôi mến ở trong tôi thương mà chẳng phải tôi mến thương, bèn là Chúa Giêsu ở trong tôi, Ngài muốn dùng tôi mà thương mến. Do đó, tôi phải sống làm sao như Chúa Giêsu đã sống và làm mỗi việc như Chúa Giêsu đã làm vậy. Linh hồn đã biết sống thiêng liêng bề trong thì chẳng lìa Chúa Giêsu, mà hằng liên lạc cùng Ngài như con thơ với Mẹ, như trò bé với Thầy, lại như bạn cố tri, như người cố vấn. Gặp sự nguy nan, lâm cơn khốn khó, liền chạy đến cùng Chúa xin giãi bày, yên ủi. Lấy Chúa làm tay nâng đỡ, làm nơi nương ẩn, thành lũy chở che.

Sống bề trong như vậy làm cho ta biết giữ nết na đức hạnh, không dám làm sự gì mất lòng Chúa, không để lòng dính bén của hèn thế gian, và chê gớm sự sung sướng xác thịt, lại được dễ dàng mà làm việc thiêng liêng cho sốt sắng. (x.GS I, 248) Khi sống được như vậy đời sống của ta trở thành đời sống mang đậm chất Chúa nên trở nên tốt lành thánh thiện.

3.    Thinh lặng và hồi tâm giúp nuôi dưỡng sự sống bề trong.

Đức Cha Tổ Phụ nói rằng để “giúp giữ tinh thần bề trong ta phải hồi tâm”. (GS I, 278).

Thật vậy, Chúa không ở trong sự náo động. Muốn tìm Chúa phải vào “ sa mạc”. Nếu cứ nói chuyện hoài hay để lòng dồn dập bởi bao dự tính lo toan thì còn thời giờ đâu để nghĩ đến Chúa và tìm được sự vui thích ở bên Chúa. Một khi cảm thấy Chúa là nhạt nhẽo thì dễ gì còn muốn tiếp xúc với Người và cứ cái đà đó, người tu sĩ chỉ có tên chứ thực ra đâu còn liên hệ với Chúa bao nhiêu. Do đó, chúng ta cần có tâm hồn tĩnh lặng ngay giữa những dao động của trần thế. Tâm hồn tĩnh lặng giúp ta nhận ra được tiếng thì thầm của Chúa ngay trong những công việc, những gặp gỡ tương giao.Trong tĩnh lặng, ta có thể nghe tiếng Chúa nói với ta trước khi ta biết nói nên lời. Chính trong sự tĩnh lặng mà ta có thể hiểu sâu bản thân mình, có thể phát hiện ra những vùng bóng tối của tâm hồn mình. Sự yên lặng, suy nghĩ, cầu nguyện sẽ giữ cho đời tu khỏi phân tán và làm cho đời sống mãi được thực chất của Chúa. Ta sẽ hút thở được bầu không khí của Chúa và phản ứng trước mọi sự việc theo tinh thần của Chúa, vì trong thinh lặng ta sẽ dễ kết hiệp với Chúa và lòng được đầy tràn sự hiện diện của Chúa. Nhờ biết thinh lặng sẽ giúp ta dễ dàng hồi tâm từng lúc, biết nhìn lại cách sống của mình và điều chỉnh đời sống mình sao cho hợp với ý chúa muốn. Từ đó cuộc đời của chúng ta sẽ được đổi mới mỗi ngày để lớn lên trong cuộc đời hiến dâng.

 Đức Cha còn dạy thêm, có năm việc phải làm cho được nuôi dưỡng sự sống bề trong: “Nhìn xem Chúa, nghe Chúa truyền, mến yêu, tưởng nhớ, cầu nguyện thở than”. (GS I, 250). Đồng thời, muốn đạt đến sự sống thiêng liêng bề trong, nghĩa là muốn cho được dễ dàng mà sống thiêng bề trong một cách tự nhiên, thì ta phải có tám phương pháp này: “Lương tâm trong sạch, lòng thanh tịnh, trí tinh anh, ý ngay lành, tĩnh tâm khắc kỷ, ngôn hành hẳn hoi, tình thân với Chúa, yêu người như yêu mình.”

4.    Sống bề trong thúc đẩy ta dấn thân hơn trong đời sứ vụ.

Thật chúng ta không thể nào dấn thân trong việc tông đồ nếu không có tâm hồn sống thiêng liêng bề trong. Chúng ta cần phải cảm nghiệm sự hiệp nhất với Chúa Kitô, như Chúa Kitô đã hiệp nhất với Chúa Cha. Hành động của chúng ta thực sự là hành động tông đồ chỉ khi nào chúng ta cho phép Chúa Kitô hoạt động trong chúng ta. Đức Cha tổ phụ chúng ta dạy rằng: “Tinh thần bề trong là hồn sống tất cả mọi việc lành và là động tác cho mọi cách ăn nết ở của người nhà dòng” (GS I, 433)

Nói đến đây chúng ta không thể không nhắc đến mẫu gương của Mẹ Têrêsa Calcultta. Một trong những điều hấp dẫn bao thiếu nữ muốn đi theo con đường tận hiến phục vụ như Mẹ là do đời sống nội tâm cầu nguyện của Mẹ. Có một lần, một du khách trong đoàn tham quan cơ sở bác ái của mẹ đã hỏi mẹ: “Suốt ngày Mẹ phục vụ vất vả không có giờ thở, ăn uống thất thường, thậm chí không ngủ đêm được vậy mà Mẹ vẫn luôn hăng hái, vui tươi làm việc.Tại sao Mẹ lại có được một tinh thần như thế? Mẹ không trả lời ngay, nhưng lẳng lặng dẫn cả đoàn khách đến nhà nguyện, mở cửa ra và chỉ tay về phía nhà tạm và nói với mọi người thật rõ ràng, vắn tắt “GIÊSU”. Lúc ấy ai cũng hiểu rằng Chúa Giêsu chính là sức mạnh giúp cho mẹ làm công việc vinh danh Thiên Chúa”.

Thật không thể chối cãi được, cốt lõi của sự sống bề trong chính là Tình yêu. Chính vì tình yêu Đức Kitô giúp người tu sĩ sẵn sàng dấn thân vào mọi lãnh vực. Tuy gặp phải những khó khăn thách đố trong trách nhiệm hay bổn phận, họ vẫn cảm thấy dễ dàng vì được thực hiện trong tình yêu, với tình yêu và bởi tình yêu. Khi có tình yêu thì người tu sĩ sẽ làm việc gì cũng nhiệt tình và có sáng kiến và làm đến nơi đến chốn. Trước khi quyết định điều gì cũng luôn hỏi ý kiến Chúa, khiêm tốn lắng nghe ý kiến của mọi người. Khi thành công không tự mãn, khi thất bại, bị hiểu lầm cũng không chán nản, buông xuôi hay rút mình vào cái vỏ ốc để tìm sự an toàn, nhưng khi đó lại thầm cám ơn Chúa vì cho mình cơ hội để khiêm tốn và cậy dựa vào ơn Chúa nhiều hơn.

          Đời sống thiêng liêng bề trong thật quan trọng và cần thiết vì giúp cho người tu sĩ  luôn sống dưới con mắt Chúa. Nhờ sống bề trong mà người tu sĩ luôn được an vui trong lý tưởng đời thánh hiến và cảm nhận được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời mình. Đối với Đức Cha Tổ Phụ chúng ta “sống thiêng liêng bề trong” được xem như cốt cách con người của Ngài. Đây là một gia sản cao quý mà Đức Cha đã để lại cho chị em Mân Côi chúng ta. Là thế hệ con cháu, chúng ta có bổn phận gìn giữ và lưu truyền gia sản tinh thần cao qúy này. Đồng thời, mỗi ngày chúng ta cần phải thể hiện cách sáng tỏ hơn tinh thần “sống bề trong” trong đời sống hằng ngày của chúng ta, nhờ đó người khác sẽ nhận ra được căn tính đích thực của người nữ tu Mân Côi.



    


94 Bành Văn Trân, Phường 7, Quận Tân Bình, TpHCM

ĐT : 0838640000

Email : fmsrchvn@yahoo.com

            fmsrchvn@gmail.com