PHẦN III

HUẤN LUYỆN THẦN HỌC

Trong thời đại chúng ta đang sống, mọi thứ đều thay đổi nhanh chóng: từ niềm tin, tư tưởng đến những văn minh vật chất, do đó các tín hữu đều mong tìm thấy nơi Giáo Hội những lời dạy dỗ rõ ràng và những hướng dẫn vững chắc cho việc sống đạo và việc truyền đạt những chân lý của đạo cho người khác. Vì vậy, công việc huấn luyện Thần học cho các giáo lý viên càng ngày càng quan trọng, nó hệ tại việc giúp họ có khả năng suy tư Thần học cách hợp lý và chính xác, biết nối kết mọi lãnh vực của thần học vào một điểm quy chiếu độc nhất là Lời Chúa (bởi vì Lời Chúa mang chiều kích thiết yếu trong giáo lý), và từ những hiểu biết thần học đó, giáo lý viên biết tự nguyện đi vào mối tương quan sống động với Đức Kitô và biết minh hoạ những lý thuyết trừu tượng bằng một đời sống đức tin cụ thể.

Thần học là một khoa học về Thiên Chúa, nghĩa là trình bày những quan điểm, những hiểu biết của con người về Thiên Chúa qua Kinh Thánh, qua Thánh Truyền và qua những suy tư cá nhân về Thiên Chúa. Thần học cung cấp rất nhiều kiến thức, dựa trên lý luận chặt chẽ để nói về Thiên Chúa. Trong khi đó, giáo lý dù vẫn dựa trên những điểm thần học cơ bản, nhưng luôn nhắm đến lòng tin, cậy, mến chân thành của con người đối với Thiên Chúa và được thể hiện ra bằng đời sống cụ thể tốt lành. Thần học và Giáo lý đều có chung một nguồn mạch là Lời Chúa và cùng trình bày Lời Chúa. Nhưng xét về chuyên môn và phương pháp thì Thần học và Giáo lý có những điểm khác nhau. Chúng ta nêu lên một vài khác biệt giữa Thần học và Giáo lý[1]:

-      Thần học thiên về các ý niệm và dùng ngôn ngữ trừu tượng trong triết học – Giáo lý dùng hình ảnh, ngôn ngữ cụ thể, thường ngày theo văn hoá, trình độ.

-      Thần học có tính uyên bác, đi vào chuyên môn, nghiên cứu theo thứ tự - Giáo lý có tính đơn giản, thực dụng và gần với đời sống con người.

-      Thần học hệ thống hoá các tư tưởng theo luận lý- Giáo lý chú trọng đến nhu cầu tâm lý con người.

-      Thần học theo đường lối phân tích - Giáo lý có tính tổng hợp. Mỗi chương trình giáo lý cho từng tuổi đều mang một cái nhìn tổng hợp.

-      Thần học theo phương pháp diễn dịch. Giáo lý theo phương pháp quy nạp.

-      Thần học thoả mãn lý trí về mặt nhận thức - Giáo lý trực tiếp cải thiện đời sống.

Như vậy, khi dạy giáo lý không phải chỉ trình bày những kiến thức hấp dẫn về Thiên Chúa, nhưng còn giúp người tín hữu trưởng thành trong đức tin, trở thành người con Chúa theo mẫu gương của Đức Kitô. Tuy nhiên, Một số khác biệt giữa Thần học và Giáo lý không cho phép chúng ta tách Giáo lý và Thần học như hai môn học riêng rẽ, nhưng Giáo lý luôn phải nằm trong chiều hướng của Thần học.

 


CHƯƠNG I:

NỀN TẢNG THẦN HỌC

Chỉ Nam tổng quát việc dạy giáo lý số 240 dạy rằng: “Giáo lý viên không những là một nhân chứng nhưng còn là người thầy giảng dạy về đức tin. Việc đào tạo đầy đủ về Kinh Thánh và Thần học sẽ giúp cho giáo lý viên hiểu biết có hệ thống về thông điệp Kitô giáo, được nối khớp quanh mầu nhiệm trung tâm của đức tin là Đức Giêsu-Kitô.”

Nền tảng của mọi nền thần học Kitô giáo chính là Thánh Kinh. Ngoài ra, còn có những đạo lý, những quy luật tôn giáo được phát sinh trong lịch sử Giáo Hội. Chỉ Nam tổng quát việc dạy giáo lý số 240 xác định nội dung việc huấn luyện Thần học gồm có Thánh Kinh và Thánh Truyền, được phân chia theo sơ đồ sau đây:



 

I. THÁNH KINH

Thánh Kinh là nguồn mạch chính của giáo lý. Trong hiến chế Tín lý về Mạc khải, Giáo Hội nhấn mạnh đến “nguồn mạch của giáo lý là Lời Chúa” [2], được nói qua các Tổ phụ, các tiên tri và được mạc khải trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Chỉ Nam tổng quát việc dạy giáo lý khẳng định: “Thánh Kinh là linh hồn của việc đào tạo Thần học.”[3] Như vậy giáo lý càng sát gần Thánh Kinh thì càng phong phú.

Qua Thánh Kinh, con người biết rõ những việc Chúa làm, những lời giáo huấn và những ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa Ba Ngôi trong lịch sử cứu độ. Và chính Đức Kitô là trung tâm của lịch sử cứu độ ấy. Qua việc nhập thể, cái chết và phục sinh, Ngài đã thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa đối với con người. Tất cả những gì được nói đến trong Cựu ước đều là chuẩn bị và hướng về Đức Kitô. Tất cả những gì đến sau Đức Kitô đều là nối dài sự hoạt động và hiện diện của Đức Kitô trong lịch sử cứu độ.

Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa nói với con người bằng chính ngôn ngữ của con người trong quá khứ và cũng là điều Thiên Chúa đang nói với chúng ta hôm nay. Nhờ Thánh Kinh chúng ta biết được những hình thức tuyệt diệu Thiên Chúa nói với nhân loại qua bao thế kỷ. Kinh Thánh mạc khải ý muốn trường cửu của Thiên Chúa cho con người. Như vậy Kinh Thánh là một dấu chỉ rất đặc biệt của Lời Chúa và chính là nội dung mà giáo lý phải truyền đạt.

Theo cuốn Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý số 95, thì:

-      “Lời Chúa đã được toàn thể dân Chúa suy gẫm và học hiểu cách sâu xa bằng sự nhạy bén của đức tin và dưới sự hướng dẫn của Giáo Hội.

-      Lời Chúa luôn được công bố, lắng nghe, nội tâm hoá và giải thích trong phụng vụ.

-      Lời Chúa luôn toả sáng trong đời sống cũng như trong lịch sử của Giáo Hội, trong đời sống chứng tá của các kitô hữu và đặc biệt qua đời sống của các Thánh.

-      Lời Chúa luôn được đào sâu trong những nghiên cứu thần học, là phương tiện giúp các tín hữu thăng tiến trong việc hiểu biết các mầu nhiệm đức tin.

-      Lời Chúa được biểu lộ trong các giá trị tôn giáo và những nền đạo đức chân chính, vốn được phổ biến trong trong xã hội con người và trong các nền văn hoá khác nhau với đặc tính là “hạt giống” được gieo vào lòng con người”

Huấn luyện Thánh Kinh sẽ giúp giải thích đời sống con người hiện tại dưới ánh sáng các kinh nghiệm mà dân Israel, Đức Kitô và Giáo Hội đã sống.

 

VẬY GIÁO LÝ VIÊN CẦN TRAU DỒI THÁNH KINH THẾ NÀO?

Thánh Kinh là trọng tâm của giáo lý nhưng nhiều người trong chúng ta lớn lên với một kiến thức giới hạn về Thánh Kinh. Hiện nay có nhiều đường hướng và phong trào hỗ trợ việc học hỏi Thánh Kinh, ngoài các khoá học về Thánh Kinh, giáo lý viên có thể tự học. Xin nêu lên ở đây một trong những phương pháp cụ thể giúp tự đọc Kinh Thánh. Phương pháp này nhằm giúp khám phá ý nghĩa đoạn Thánh Kinh qua các bước: đọc, suy tư, cầu nguyện và quyết tâm hoán cải.

1.   Mở bất kỳ một đoạn Kinh Thánh nào hay chọn một đoạn theo ý mình, đọc lần thứ nhất để làm quen với bản văn đó. Ghi nhận những tâm tình đã cảm nghiệm được.

2.   Đọc lần hai, đọc chậm, sau đó lắng nghe xem có tiếng nói gì vang vọng trong tâm hồn? Tự hỏi xem từng chữ, từng câu có ý nghĩa gì? Cũng cần ghi lại những hiểu biết, những tâm tình có thêm và cả những vấn đề thắc mắc về bản văn nếu có.

3.   Đọc lần 3, suy niệm và cầu nguyện theo câu truyện hoặc đoạn Kinh Thánh. Điều quan trọng là hiểu những điều vừa đọc và đem áp dụng ngay trong chính cuộc sống của mình hay trong bài giáo lý sẽ dạy. Đó mới thực sự hữu ích cho bản thân cũng như cho việc dạy giáo lý.

4.   Nếu có thể, giáo lý viên nên đọc một đoạn Kinh Thánh nhiều lần, đọc với sự chú ý, đọc với lòng khao khát, với thái độ lắng nghe và để Lời Chúa chất vấn con người của mình. Khi có những câu nào ta cảm thấy ngượng, muốn tránh né, thì những câu đó càng có sức chữa bệnh tâm hồn cho mình, đây là điều chúng ta cần phải tiếp nhận. Vấn đề quan trọng là làm sao để Lời Chúa được vang dội nơi tâm hồn. Vì thế cần tạo khoảng không gian, bầu khí tốt để nội tâm hoá, suy tư, cầu nguyện, chiêm niệm và quyết tâm hành động, thực hiện dấn thân, đổi mới.

5.   Nên có giờ để đọc hết chương bao gồm câu truyện, những câu nói liên quan đến đoạn chúng ta đang đọc. Điều này rất quan trọng để giúp ta thấy được toàn bộ bố cục Kinh Thánh và giúp hiểu rõ thêm ý nghĩa của đoạn văn ta trích đọc và trả lời những vấn nạn hoặc nêu lên những vấn đề mới.

Ngoài ra, khi đọc Thánh Kinh, ta không nên bỏ qua những lời giới thiệu, những phần tiểu dẫn và những chú thích trong sách Thánh: Ở đầu hay cuối sách Kinh Thánh thường có những phần chỉ dẫn như “cách thức đọc Kinh Thánh”, “cái nhìn sơ lược về lịch sử”, phụ lục chú thích, tự điển, bản đồ, và trước mỗi cuốn đều có những tiểu dẫn về tác giả và nguồn gốc.

Dưới mỗi trang đều có thêm phần chú thích. Những câu khó hiểu thường có những ký hiệu giúp ta tìm những chú thích ở cuối trang. Đồng thời ở lề cạnh bản văn có những ký hiệu giúp nhận ra những đoạn văn, hoặc câu khác liên quan. Những tham khảo này soi sáng thêm cho đoạn văn, và giúp ta hiểu được những liên hệ trong Kinh Thánh như thế nào.

Nói tóm lại, chúng ta nên dành thời giờ đọc Kinh Thánh để Lời Chúa có thể bén rễ sâu và đổi mới cuộc sống của ta. Áp dụng từng bước đơn giản này cho mỗi đoạn Lời Chúa mà ta sẽ dạy, nghĩa là đọc, suy tư, cầu nguyện và quyết tâm sống theo. Nhờ đó chúng ta sẽ tăng thêm kiến thức Kinh Thánh và sẽ cảm thấy tự tin khi hướng dẫn Lời Chúa cho các em, đồng thời ta sẽ cảm thấy nhu cầu phải học Kinh Thánh sâu xa hơn nữa.

II. THÁNH TRUYỀN

Ngoài Thánh Kinh, một phần mạc khải còn được lưu lại dưới hình thức truyền khẩu và trong giáo huấn của Giáo Hội vì Thiên Chúa cũng ngỏ lời qua những khía cạnh khác của đời sống Giáo Hội. Ngay buổi đầu, do những cuộc trở lại đạo đông đúc, các tín hữu đã sớm thành hình những biểu thức đức tin nền tảng của Kitô giáo... Chúng ta biết được bản tóm lược đạo lý căn bản này qua Kinh tin kính.

1. KINH TIN KÍNH

Kinh Tin kính là bản tóm lược giáo lý nền tảng của đạo công giáo, được triển khai trong phần I sách Giáo lý công giáo. Thánh Cyrilô thành Giêrusalem nói về Kinh Tin kính như sau: “ Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất[4].

Theo Thánh Ambrôsiô thì: “Kinh Tin kính là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn hiện diện, chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta.”[5]

Kinh Tin kính được chia làm 3 phần:

·     Tuyên xưng niềm tin Thiên Chúa Ngôi Cha và công trình sáng tạo kỳ diệu của Ngài.

·     Tuyên xưng niềm tin vào Ngôi Hai là Chúa Con và mầu nhiệm cứu chuộc loài người.

·     Tuyên xưng niềm tin vào Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba, Đấng thánh hoá con người.

Trong lịch sử Giáo Hội, có nhiều bản tuyên xưng đức tin[6], nhưng có hai bản chiếm một địa vị đặc biệt trong đời sống Giáo Hội, đó là

-      Kinh Tin kính của các Tông đồ (vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông Đồ).

-      Kinh Tin kính của Công đồng Nicêa Constantinôpoli (được coi là quan trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381).

Khi đọc Kinh Tin kính, Giáo Hội tuyên xưng mầu nhiệm Ba Ngôi và ý định nhân từ của Ngài. Khi đọc kinh Tin kính với niềm xác tín, chúng ta được thông hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi và toàn thể Giáo Hội, vì Giáo Hội truyền đạt đức tin cho chúng ta và chính chúng ta sống niềm tin của mình vào Thiên Chúa giữa lòng Giáo Hội.

2. PHỤNG VỤ

Niềm tin của người kitô hữu còn được diễn tả qua việc cử hành phụng vụ. Tất cả các mầu nhiệm Kitô giáo được loan truyền trong giáo lý và được cử hành trong phụng vụ. Do đó việc huấn luyện phụng vụ sẽ giúp các tín hữu sống kinh nghiệm tôn giáo của con người trải qua bao thế kỷ.

Qua phụng vụ, chúng ta đi sâu vào sự hiệp thông với Thiên Chúa, chúng ta lắng nghe Lời Chúa được công bố và diễn giải, rồi chúng ta nói, hát, hành động để đáp lại Lời Chúa.

Vì vậy giáo lý và phụng vụ liên kết chặt chẽ với nhau. Tương quan này rất sống động nhưng thường trong thực tế ta không dễ thấy được điều đó. Phụng vụ và giáo lý cũng bổ túc cho nhau:

-      Giáo lý chuẩn bị người ta tham dự phụng vụ cách tích cực và sống động qua việc giúp đỡ họ hiểu biết về các mầu nhiệm được cử hành cũng như hiểu biết về bản chất, nghi lễ và dấu chỉ của phụng vụ.

-      Phụng vụ làm cho giáo lý trở thành cụ thể, sống động, giúp sự hiểu biết bằng trí tuệ thành cảm nghiệm bằng tâm hồn. Do đó phụng vụ có một giá trị sư phạm rất lớn trong lãnh vực giáo lý.

Kinh nghiệm cho thấy rằng giáo lý và phụng vụ liên kết với nhau trong bốn lãnh vực:

·     Thái độ của người Kitô hữu. Qua giờ giáo lý, giáo lý viên là người khuyến khích và giúp người khác biết cầu xin, tạ ơn, sám hối, phó thác và cởi mở tâm hồn với Thiên Chúa trong các giờ phụng vụ và trong đời sống hằng ngày. Những tâm tình này chính là hồn sống của phụng vụ... Chẳng hạn, nếu không có thái độ tạ ơn thì bí tích Thánh Thể sẽ thiếu đi cái hồn của nó. Nếu không có lòng sám hối thực thì sẽ không có bí tích hoà giải. Vì thế, để đạt tới chiều sâu trong khi cử hành phụng vụ, giáo lý viên cần thiết phải nuôi dưỡng những “thái độ phụng vụ” này nơi chính mình và nơi các học viên giáo lý của mình. Chúng ta thực hiện điều này bằng gương sáng của mình hơn là chỉ bằng việc cổ vũ bên ngoài

·     Nhạy cảm với các dấu chỉ. Phụng vụ được thể hiện qua các hành động và các sự vật mang tính chất biểu tượng như làm dấu, bẻ bánh, phép lành, xức dầu thánh, nước, lửa...

·     Con người ngày nay sống trong môi trường khoa học, điện toán là những gì có thể thử nghiệm, đong đếm, mua bán hơn là những cảm nghiệm, lễ nghi và các dấu chỉ... Vì thế giáo lý viên cần học hỏi để biết rõ những ý nghĩa thâm sâu của ngôn ngữ biểu tượng và các chất liệu dùng trong phụng vụ để giúp người khác hiểu và tham dự cách sốt sắng hơn. Theo James Dunning: “Giáo lý đầy dẫy biểu tượng và truyện tích; điều kỳ diệu và việc cầu nguyện; im lặng và huyền nhiệm; tưởng tượng và cảm kích... Phụng vụ là thế đấy”.

·     Nền tảng Kinh Thánh. Biểu tượng phụng vụ được tìm thấy trong các câu truyện Kinh Thánh cũng như trong hình ảnh và các biểu tượng tự nhiên. Chẳng hạn, việc đổ nước trong bí tích rửa tội mang biểu tượng tự nhiên của nước là làm sạch, làm tươi mát, làm cho sống và làm tái sinh. Nhưng nước rửa tội nói lên ý nghĩa phong phú hơn rút ra từ những câu truyện Kinh Thánh về nước, chẳng hạn: Câu chuyện sáng tạo, lụt hồng thủy, vượt qua biển đỏ, băng qua sông Jordan tiến về đất hứa...

Việc hiểu biết những câu truyện Kinh Thánh và ý nghĩa của nó rất cần thiết để thấu hiểu những lễ nghi phụng vụ. Giáo lý viên có trách nhiệm hướng dẫn các em về ý nghĩa phong phú của các câu truyện Kinh Thánh

·     Nối kết phụng vụ với giáo lý.

Bằng mọi nỗ lực, chúng ta nối kết việc dạy giáo lý với tâm tình phụng vụ.

Chính vì mối tương quan mật thiết hai chiều giữa giáo lý và phụng vụ mà các sách giáo lý ngày nay thường trình bày nội dung giáo lý theo diễn tiến của phụng vụ. Một số giáo lý viên xây dựng toàn bộ giáo lý xung quanh các bài đọc trong thánh lễ theo chu kỳ phụng vụ.

Một số giáo lý viên khác áp dụng trong lớp học những yếu tố phụng vụ như:

a.   Mùa phụng vụ

Bồi dưỡng kiến thức phụng vụ trong các bài học, không những chỉ đề cập đến mà thôi nhưng còn áp dụng nó. Chẳng hạn trong mùa vọng có màu sắc mùa vọng, nghệ thuật, những câu chuyện Kinh Thánh mùa vọng, những bài hát dân gian, hoặc những tấm hình nói lên sự mong mỏi chờ đợi.

b.   Lời nguyện phụng vụ

Áp dụng ngay trong lớp những lời nguyện thích hợp lấy từ thánh lễ hay các giờ kinh phụng vụ. Nhiều lời nguyện rất thích hợp cho giáo lý có thể trở thành đề tài trong buổi học.

c.    Thánh vịnh và thánh ca

Chọn những bài hát, những thánh vịnh ngày chúa nhật để tạo cầu nối giữa lớp học và nhà thờ.

d.   Biểu tượng và nghi lễ phụng vụ

Một vài cử chỉ điệu bộ, phong cách và những vật dụng được dùng làm biểu tượng trong phụng vụ có thể làm cho bài học sống động hơn. Việc nối kết các yếu tố phụng vụ và giáo lý không khó lắm một khi ta cảm nhận được giá trị của nó.





3. CÁC NHÂN CHỨNG

Nội dung giáo lý còn bao gồm đời sống gương mẫu của các Thánh, của Giáo Hội và của các chứng nhân kitô hữu. Những giáo huấn của Đức Thánh Cha, của các Công đồng, các Giám Mục, những người có trách nhiệm giảng dạy là những chứng từ sống đức tin và là một phần trong kho tàng Đức tin của Giáo Hội.

Ngày nay, Giáo hội rất quan tâm đến đời sống những kitô hữu gương mẫu. Giáo hội coi đời sống của kitô hữu dấn thân như dấu chỉ của Giáo Hội giữa thế giới và là thành phần sống động của nội dung giáo lý. Các thánh và các bậc anh hùng còn sống cũng như đã qua đời đã cung cấp cho chúng ta những tấm gương thật sự sống động, để giúp ta biết sống thế nào như những người theo Chúa Kitô và như những người đáng được biểu dương. Để hiểu biết về đời sống các thánh, ta nên:

·     Theo dõi lịch phụng vụ. Giáo Hội thường tôn kính một hay nhiều vị thánh vào một ngày nào đó trong năm. Nên có một cuốn lịch phụng vụ để theo dõi và dành ít phút trong ngày để học hỏi về vị thánh được kính nhớ trong ngày.

·     Nên đọc thêm những sách đề cập đến các vị anh hùng nam nữ mà đời sống của họ có ý nghĩa đặc biệt khi phải vượt thắng những thách đố đương thời.

·     Ta có thể có những sáng kiến về việc phát huy đời sống các Thánh và từng bước đưa đời sống các Thánh ảnh hưởng vào đời sống của ta cũng như của các em học viên giáo lý qua việc cầu nguyện, diễn thơ văn, nghệ thuật, giải đáp thắc mắc, diễn kịch, bản đồ, phim ảnh, vidéo...

·     Ta cũng có thể sử dụng những phương tiện thông tin như báo chí hằng ngày, tin tức trên tivi, radio, tạp chí các loại để tìm những mẫu gương về đời sống dấn thân của các Kitô hữu.

·     Chúng ta nên quan tâm cả đến những mẫu gương đáng khâm phục của người trong gia đình, thân nhân, hàng xóm, những người trong xã hội v.v...

4. NHỮNG DẤU CHỈ KHÁC TRONG ĐỜI SỐNG     

Lời Chúa có thể đến với chúng ta bằng nhiều cách qua những dấu chỉ của thiên nhiên, của lịch sử. Qua những dấu chỉ này, con người khám phá ra sự hiện diện hoặc ý định của Thiên Chúa[1]. Do đó Giáo Hội không ngừng tìm kiếm và khám phá ý nghĩa của những biến cố bên trong và ngoài Giáo Hội.

Ta có thể nêu lên một số dấu chỉ khác tạo nên nội dung phong phú của giáo lý [2].

4.1. Dấu chỉ thiên nhiên

Những dấu chỉ thiên nhiên của Lời Chúa luôn có chung quanh chúng ta vì Thiên Chúa luôn ở với chúng ta mọi nơi mọi lúc và Chúa Kitô phục sinh làm phong phú mọi sinh hoạt của con người. Chẳng hạn như một bữa ăn gia đình, một sự kỳ diệu của thiên nhiên như: bông hoa, con bướm, giòng suối, trận động đất, một biến cố chính trị, một lời nói hay một cử chỉ thân thiện, một ổ bánh mì hay một ly rượu, một thành quả khoa học như máy vi tính, một bức tranh tuyệt đẹp, một bài hát hay v.v... tất cả đều có thể là những dấu chỉ Thiên Chúa ngỏ lời với con người. Đó là lý do mà sách giáo lý ngày nay nói đến tất cả kinh nghiệm sống của con người.

4.2. Những dấu chỉ của thời đại

Đức Gioan XXIII nhấn mạnh đến nhu cầu phải đọc những “dấu chỉ thời đại” để nhận thức điều Thiên Chúa nói với chúng ta. Ngài đã dùng ý tưởng “dấu chỉ thời đại” rút từ trong Tin Mừng Matthêu 16,3: ...Cảnh sắc bầu trời thì các ông biết cắt nghĩa, còn thời điềm thì các ông lại không cắt nghĩa nổi.

Để triển khai ý tưởng của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII, Giáo Hội dạy dân Chúa biết nhận thức dấu chỉ xác thực về sự hiện diện và ý định của Thiên Chúa trong các biến cố, những nhu cầu và những khát vọng mà con người cảm nghiệm khắp nơi[3]. Các kinh nghiệm cá nhân, biến cố xã hội, chính trị, vấn nạn muôn thuở, những giá trị nền tảng, các vấn đề thời đại... Đó là tất cả những điều mà sách giáo lý gọi là dấu chỉ thiêng liêng của Lời Chúa. Khi loại bỏ hay lướt qua phần kinh nghiệm của con người trong giáo lý là chúng ta cắt xén truyền thống giáo lý với đời sống hằng ngày.

Vậy chúng ta ứng dụng kinh nghiệm đời sống như thế nào?

Xét về tầm quan trọng của những kinh nghiệm sống của con người trong giáo lý, chúng ta cần tìm kiếm những đường hướng có hiệu quả để giúp khám phá những gì đang xảy ra trong đời sống con người. Sau đây là những bước mà chúng ta thấy là hữu ích:

a.   Suy tư dựa trên kinh nghiệm riêng

Bước thực hành quan trọng nhất là xác tín của ta vào truyền thống giáo huấn của Giáo Hội. Truyền thống này hướng dẫn chúng ta nhận biết Thiên Chúa đang hiện diện và ngỏ lời với chúng ta trong những kinh nghiệm của đời sống hằng ngày.

 Sau đó hãy suy tư xem nơi nào và cách nào giúp ta gặp Chúa tốt nhất, thời gian nào ảnh hưởng nhất đến mối tương giao của ta với Thiên Chúa. Con người, công việc, cơ hội, tai nạn, sức khỏe tốt, xấu đã giúp ta nhận thấy Thiên Chúa đang tác động nơi đời sống của mình như thế nào?

b.   Suy tư và đặt vấn đề

Trước mỗi hoàn cảnh, biết đặt vấn đề, biết lắng nghe và biết nhạy cảm bằng con tim cũng như đôi tai, như vậy ta sẽ khám phá được ý nghĩa của từng vấn đề, sẽ cảm thấy năng lực được biến đổi.

c. Vận dụng kinh nghiệm của người khác

Để đào sâu và mở mang kinh nghiệm riêng cũng như biết suy tư cách sâu xa và nghiêm túc, chúng ta nên chia sẻ cho người khác những kinh nghiệm sống và lắng nghe kinh nghiệm của người khác.

Những câu chuyện, thơ văn, những bức tranh và những hình thức nghệ thuật khác, phim ảnh, vidéo, âm nhạc... tất cả đều là những phương tiện làm phong phú kinh nghiệm bản thân.

Các phương tiện truyền thông hiện đại: Nhật báo, tạp chí... sẽ cung cấp cho ta những thông tin, những câu chuyện, những chủ đề, những hình ảnh, quảng cáo... Chúng không chỉ mở mang vốn hiểu biết về những biến cố xảy ra trên thế giới, nhưng còn giúp đào sâu những kinh nghiệm chung của con người.

 

 



[1] Hiến chế Mục Vụ số 11

[2] Carl J. PFEIFER, Để dạy giáo lý hữu hiệu hơn (How to be a better catechist), Bản dịch của nhóm ABC, trang 12

[3] Tiếng nói của Thánh Linh mà Đức Giêsu, qua Chúa Cha, đă truyền đạt cho các môn đệ, cũng phải được lắng nghe qua các biến cố lịch sử. Giữa những đổi thay của tình hình hiện tại và giữa những động lực sâu sa của mọi thách đố đang đặt ra cho việc loan báo Tin Mừng, ta phải khám phá “các dấu chỉ đích thực về sự hiện diện hoặc về ý định của Thiên chúa”. Sự phân tích này phải được thực hiện dưới ánh sáng đức tin với lòngng trắc ẩn và khoan dung. Sự giúp đỡ của các khoa học nhân văn luôn luôn cần thiết giúp Giáo Hội tìm cách khám phá ý nghĩa của tình trạng hiện tại trong lòng lịch sử ơn cứu độ. Những phán đoán của Giáo Hội về thực tại luôn là những chẩn đoán dành cho việc truyền giáo. (Trích trong Hướng Dẫn Tổng Quát Việc Dạy Giáo Lý số 27).

 


[1] NGUYỄN VĂN TUYÊN, Sư phạm giáo lý, NXB TP Hồ Chí Minh, năm 1999

[2] Hiến chế Mạc Khải số 10

[3] Chỉ Nam tổng quát việc dạy Giáo lý 1997, số 95

[4] Giáo lý  Thánh Cyrilô thành Giêrusalem 5,12

[5] AMBRÔSIO, Kinh Tin kính 1

[6] Xem Giáo lý công giáo số 192