CHƯƠNG II

CÁC ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN

DỰA TRÊN CƠ SỞ VĂN HOÁ DÂN TỘC

Nói đến văn hoá là nói đến một khái niệm rộng lớn: VĂN là nét vẽ, thể hiện vẻ đẹp bên ngoài; HOÁ là biến đổi cho tốt đẹp hơn. Theo Tự điển của Viện Hàn Lâm Pháp thì VĂN HOÁ là “Toàn bộ những thụ đắc về văn chương, nghệ thuật, thủ công nghệ, kỹ thuật, khoa học, luật lệ, cơ chế, tục lệ, truyền thống, những cách suy nghĩ và cách sống, những cách ứng xử và sử dụng thuộc mọi lãnh vực, những lễ nghi, những thần thoại và niềm tin tạo nên một di sản cộng đồng và cá tính của một nước, một dân tộc, một tổ chức hay một nhóm người”.

Các nhà xã hội học thì nhấn mạnh mối quan hệ giữa con người với nhau, làm pháp sinh văn hoá với ý nghĩa là “một tổng thể cách suy nghĩ, cảm nhận và hành động riêng của một xã hội”.

Nói cách tổng quát, Công đồng Vaticanô II gọi “văn hoá là tất cả những gì làm thăng tiến con người”.

Khi nói đến việc phát triển nhân cách hay trưởng thành nhân bản, chúng ta phải dực trên 2 đặc điểm: một là dựa trên cơ sở văn hoá dân tộc, hai là mở ra với thế giới hiện tại, nghĩa là luôn trung thành với văn hoá dân tộc và hoà mình vào gia đình nhân loại mà vẫn không mất đi căn tính độc đáo của mình.

Để trở thành con người trưởng thành trong nhân cách, chúng ta cần đề cập đến một số đức tính nhân bản theo bộ khung luân lý dân tộc sau đây:

I.    NGŨ THƯỜNG

   1.    NHÂN: Là lòng yêu thương người, tâm điểm của mọi thái dộ hành vi trong cuộc đời.

-      Đức nhân dựa trên nền tảng Chúa là Tình yêu, ai yêu thương nhau thì ở trong Thiên Chúa.

-      Xét về tự nhiên thì « Tứ hải giai huynh đệ »: người trong bốn biển đều là anh em. Người có lòng nhân luôn cổ võ tình thương nhân loại.

-      Người có lòng nhân luôn biết chạnh thương, dám chịu thiệt thòi vì dám tin rằng cuối cùng thìTình yêu sẽ thắng.

-      Các tinh thần phát xuất từ lòng nhân là vị tha, bao dung, kính trọng, đối thoại trong yêu thương v.v...

   2.    NGHĨA: biết ơn, là hiểu và nhớ công ơn của người khác đối với mình: Thiên Chúa, cha mẹ, thầy cô và mọi người thân quen sống bên ta, mọi người làm ơn cho ta trực tiếp hay gián tiếp.

-      Biết ơn còn là sự hiểu biết và bày tỏ điều mình nhận biết về giá trị tinh thần cũng như vật chất.

-      Biết ơn để xứng đáng là người hơn, để xứng đáng với ơn đã lãnh nhận và để xứng đáng nhận thêm các ơn khác.

-      Người biết ơn còn là người khiêm nhường, hiếu khách, phục vụ vô vị lợi, có tinh thần trách nhiệm, vâng lời, thủy chung, yêu quê hương dân tộc, có tinh thần làm việc chung, hy sinh vì ích chung.

   3.    LỄ: Là lịch sự vui vẻ và khiêm tốn trong xử thế, kính trọng người trên, ôn tồn nhã nhặn, biết tôn trọng người và tôn trọng chính mình trong cách cư xử giao tiếp. Nền tảng của phép lịch sự là công bằng, bác ái và cái hồn của lịch sự là sự chân thành.

-      Lễ là những cư xử bên ngoài nhưng biểu lộ từ cái tâm yêu mến.

-      Lễ biểu lộ qua chào hỏi, qua ngôn từ giao tiếp nhưng hệ tại tinh thần và phát xuất từ tấm lòng.

-      Người cư xử theo lễ nghĩa thì luôn biết kính trọng ưu ái với mọi người.

   4.    TRÍ: là khả năng nhận thức, ghi nhớ, suy nghĩ, phán đoán, nhận xét...

-      Là người hiếu học, cầu tiến, cân nhắc, khôn ngoan, suy nghĩ chín chắn, phán đoán chính xác và biết tiên liệu vấn đề.

-      Là người có đức Trí luôn có sáng kiến, có những tư tưởng mới lạ và độc đáo, biết khám phá ra những điều mới lạ đem lại lợi ích cho xã hội và bản thân. Ngoài ra họ còn là người biết tổ chức làm sao cho công việc đỡ tốn thời giờ, tiền bạc, nhân lực mà vẫn có được kết quả tối đa.

-      Là người tự tin, tự học, biết thu thập các kiến thức, biết thắc mắc và biết đặt câu hỏi khi cần.

   5.    TÍN: là sự tin tưởng lẫn nhau, là sự chân thành, đúng giờ, giữ lời hứa cho dù gặp biến cố hay trắc trở,

-      Người có đức Tín thì trung tín từ trong việc nhỏ, luôn trung tín với Thiên Chúa, với Giáo Hội, với tha nhân, với bản thân và với bổn phận.

-      Trong giao tiếp, người có đức Tín được mọi người khâm phục, quý mến, tín nhiệm và cởi mở tâm tình.

-      Người có đức Tín luôn ăn ở ngay thẳng, thủy chung trước sau như một, không giả hình, gian dối hay mưu mô...

II.  NĂM NHÂN ĐỨC XÃ HỘI

   1.    CẦN: là người siêng năng, chăm lo bổn phận hiện tại, siêng năng học hành, làm việc chu đáo từ trong việc nhỏ, làm cho đến khi hoàn tất. Làm một cách vui tươi, mau mắn và kỹ lưỡng.

-      Người chuyên cần luôn tập trung, không xao nhãng, không uể oải hay lười biếng, nhưng luôn biết góp phần mình xây dựng hạnh phúc và tham gia vào sự sáng tạo của thế giới.

-      Chuyên cần chính là chiếc chìa khoá đầu tiên mở ra cánh cửa tương lai, là một trong những bí quyết thành công trong cuộc sống.

   2.    KIỆM: Là tiết kiệm, tiết độ, chừng mực, hạn chế đúng mức. Không hoang phí trong việc sử dụng tiền của - sức khỏe - thì giờ.

-      Đức tính Tiết kiệm có cội nguồn là gắn bó với công trình tạo dựng của Thiên Chúa.

-      Tiết kiệm là sự quân bình, biết dung hoà giữa hai thái cực của hà tiện và hoang phí, biểu lộ nhân đức căn bản trong đời sống là sự “trung dung”.

   3.    LIÊM: Là thanh liêm, trong sạch cả thể xác lẫn tâm hồn, không tham của, không “tơ hào” của công, không tham nhũng, hối lộ.

-      Người có đức Liêm thì yêu nghèo khó, không tham lam từ trong tư tưởng, lời nói cũng như hành động. Người thanh liêm là người trong sạch trong khi thi hành nghĩa vụ, luôn biết tôn trọng, giữ gìn của chung.

-      Người thanh liêm phục vụ hết mình mà không nhắm tư lợi, luôn tìm cách làm cho xã hội và người khác được phát triển.

-      Người thanh liêm còn biết sống thanh sạch từ thân xác đến trang phục, nhà cửa, đồ dùng và ăn uống.

       4.    CHÍNH: Ngay thẳng, công bằng, đúng đắn và cởi mở.

-      Đối với nhà giáo dục thì Chính là sống theo công lý không thiên tư tây vị, không tự dối lòng mình cũng như dối gạt người khác. Trong cư xử, ngôn ngữ và hành động luôn tỏ ra thành thực, tín nghĩa.

-      Đức Chính Trực là đức tính cần thiết của người lãnh đạo, để quản trị và hướng dẫn nghiêm minh.

-      Đức Chính Trực giúp con người phát triển nhân cách, sống tinh thần đồng trách nhiệm và biết cộng tác đúng mức.

   5.    DŨNG: là sức mạnh thể chất và tinh thần giúp đương đầu với những khó khăn, chống đối để làm những việc nên làm.

-      Người có đức Dũng luôn sống theo kỷ luật, kiên trì, trật tự, nhẫn nại, tự tin, khắc phục mọi nỗi lo âu sợ hãi, bình tĩnh trước mọi vấn đề, không để sở thích điều khiển mình, cố gắng và tự lập.

Người có đức Dũng là người giầu nghị lực, kiên cường biết làm chủ lấy mình trong mọi tình huống, luôn hành động theo lý trí, quyết tâm theo đuổi mục tiêu đến cùng.


Chương I

Chương III

MỤC LỤC