PHẦN II

HUẤN LUYỆN NHÂN BẢN

Giáo lý viên là người, do công việc của mình, phải tiếp xúc nhiều với người khác, vì thế họ cần trau dồi các đức tính nhân bản là yếu tố cần thiết giúp giáo lý viên trở nên những tín hữu gương mẫu như Công đồng Vatican II đã khẳng định: “Không có đức tính nhân bản, không thể sống tốt đời kitô hữu”. Như vậy muốn sống tốt đời Kitô hữu và trở nên dụng cụ hữu ích của Chúa và Giáo Hội, giáo lý viên cần có những đức tính căn bản của một người trưởng thành nhân cách.

Nhân cách không phải chỉ là cách ăn nết ở riêng của từng người, nhưng còn là những phẩm chất và phong cách mà ai cũng phải có để xứng đáng được gọi là người. Vậy người có nhân cách trưởng thành là gì? Thưa là người biết sống tương quan tốt với tha nhân.

Bình thường, một người khó có thể làm việc hữu hiệu nếu không biết cộng tác với người khác, một người khó sống hạnh phúc khi không thể hiệp thông với người chung quanh. Muốn hiệp thông và cộng tác được với người khác, giáo lý viên không ngừng tạo những mối tương quan ngày càng phong phú, bền chặt, tốt đẹp và sâu đậm hơn nhờ các đức tính căn bản sau đây:


CHƯƠNG I. MỘT SỐ ĐỨC TÍNH CĂN BẢN CỦA GIÁO LÝ VIÊN

1. LỊCH SỰ VÀ TÔN TRỌNG NGƯỜI KHÁC

Chúng ta phải công nhận rằng: loài người càng văn minh, khoa học kỹ thuật càng tiến bộ thì hình như có một số người lại càng thoái lui về phương diện ứng xử và đạo đức. Khi nói về một người nào có nhân cách, người ta thường thấy đó là một con người biết làm đẹp cho mình cả bên ngoài lẫn bên trong bằng cách thể hiện một nếp sống văn minh, đạo đức. Một cách cụ thể, người lịch sự là người:

-      Biết cách bày tỏ với mọi người cách thanh lịch, hợp lý và đúng phong cách của một con người có văn hoá, có giáo dục và lễ độ.

-      Biết điều, nhã nhặn trong cách cư xử, biết đón nhận người khác như một món quà quý.

-      Biết nhiệt tình tôn trọng người khác như một con người có giá trị, bất kể địa vị, hành vi tích cực hay tiêu cực của họ.

-      Tôn trọng và yêu mến người khác như một con người đặc biệt, với tâm trạng, cá tính và cách sống của riêng họ trong lúc này.

Trong nghề giáo dục, người ta có kinh nghiệm rằng càng lịch thiệp và tôn trọng ai, thì việc giáo dục người ấy càng dễ thành công. Thái độ lịch sự và tôn trọng của giáo lý viên không chỉ thuần túy chỉ là tôn trọng người khác, mà đó cũng là cách tôn trọng chính mình, vì nó chứng tỏ mình là người có hiểu biết, có giáo dục, để từ đó người khác cũng trọng nể mình, và như vậy mình dễ hướng dẫn người khác.

2. VUI TƯƠI VÀ THÂN THIỆN

Sự vui vẻ thân thiện sẽ tạo ra bầu khí thoải mái, dễ chịu làm cho người khác dễ đến và dễ cởi mở. Một giáo lý viên có tính vui tươi cũng sẽ dễ thân thiện với các em, nhờ đó các em dễ lắng nghe, dễ chia sẻ những ước muốn và trở nên dễ dạy. Chúng ta đừng đến với giờ giáo lý bằng bộ mặt nhăn nhó, giận hờn, nghiêm nghị, hay lo âu. Điều này sẽ có tác động tiêu cực trên các em, làm các em khiếp sợ và không muốn đến học giáo lý.

Giáo lý viên nên đến với các em bằng sự bình đẳng, cởi mở, thân tình để tạo niềm vui và hứng thú khi các em đến với mình.

3. DỊU HIỀN VÀ NHẪN NẠI

Người dịu hiền thì biết thông cảm và nhẫn nại trước những dại khờ, những yếu đuối và ngỗ nghịch của người khác. Người dịu hiền dùng tình thương và sự nhẹ nhàng để giáo dục thay vì dùng uy quyền và lý lẽ.

Dịu hiền và nhẫn nại là hoa trái của Thánh Thần (Ga 5,22), là dấu chỉ của sự khôn ngoan nên nó là đặc điểm của những người lãnh đạo. Vì thế giáo lý viên phải biết tự kiềm chế: không nóng giận khi gặp những điều không vừa ý mình hay khi thấy công việc bắt đầu hư hỏng. Nóng giận sẽ làm cho sự phán đoán thành lệch lạc, từ đó sẽ đưa đến những quyết định sai và nghèo nàn. Một người lãnh đạo mà quyết định sai thì sẽ mất tín nhiệm nơi người khác. Người ta thường nói: Trong 30 giây nóng giận, bạn sẽ phá hỏng tất cả thiện chí và tinh thần cao mà bạn đã dày công khó nhọc để tạo dựng. Muốn điều khiển người khác, trước hết bạn hãy học cách tự điều khiển chính mình.

4. TRUNG THỰC VÀ RÕ RÀNG

Tính trung thực làm cho mối tương quan giữa giáo lý viên và các em được trong sáng và bền chặt. Vì vậy giáo lý viên phải sống chân thực, thể hiện ra bên ngoài cũng như bên trong: không làm bộ, không đeo mặt nạ, không đóng kịch, không bao giờ hứa suông nhưng phải giữ lời hứa bằng bất cứ giá nào. Nhất là không được nói sai sự thật. Cũng không nên nói mập mờ, hay thay đổi liên tục, như thế sẽ làm cho các em cảm thấy không an toàn. Trong khi tiếp xúc với các em, giáo lý viên nên cẩn thận để lời nói luôn đi đôi với việc làm. Nhờ đó các em mới thực sự tin tưởng, mến phục và dễ vâng lời.

5. CẢM THÔNG VÀ QUẢNG ĐẠI

Sự cảm thông và lòng quảng đại là những yếu tố đem đến thành công và làm thay đổi cách sống của người khác một cách dễ dàng. Muốn thế giáo lý viên phải bao dung, tế nhị và dễ tha thứ cho những thái độ có vẻ đụng chạm đến mình. Giáo lý viên không bao giờ chấp nhất, nhỏ nhen, bài bác hay hiềm khích. Nhờ một nghệ thuật biết cảm thông sâu sắc, cảm được từ bên trong những gì các em đang sống, giáo lý viên có thể lắng nghe được mọi tỏ bày, không lời và với lời của các em, để hiểu và đáp ứng lại những mong đợi của các em.

Hãy làm cho các em cảm thấy là ta hiểu biết chúng và biết quý trọng phần đóng góp của chúng dù là rất nhỏ. Hãy nói với các em về chuyện của các em. Cho các em thấy là ta quan tâm đến các em. Giáo lý viên không nên quên rằng sự nhã nhặn của người trên đối với người dưới còn quan trọng hơn sự lễ độ của người dưới đối với người trên.

Thêm vào đó, sự cảm thông và lòng quảng đại đòi giáo lý viên sẵn sàng hy sinh thời giờ, vật chất, tài năng và công sức để giúp các em sống đạo tốt mà không mong được đền đáp công ơn dưới bất cứ hình thức nào, nhưng là cho đi tất cả vì Nước Trời.

6. TIN TƯỞNG NGƯỜI KHÁC

Mỗi con người đều mang nơi mình những hạt giống, những tiềm năng đang đợi cơ hội hiện hữu, triển nở. Nếu chúng ta biết nhìn thấy sự phong phú tiềm ẩn nơi mỗi con người và dám tin vào điều ấy, chúng ta sẽ giúp họ khám phá được chân tính của họ để có thể sửa sai và vươn lên.

Kinh nghiệm giáo dục cho thấy: nếu ta cho rằng một người nào đó bất lực trong việc này việc kia, thì thực sự người đó sẽ trở thành bất lực. Trái lại, nếu người đó cảm thấy được tin tưởng, được khuyến khích, thì họ sẽ có cơ hội vượt lên trên những bất lực và sẽ thay đổi một cách không ngờ. Đặc biệt đối với các em nhỏ, chúng ta càng tin tưởng, các em càng mau tiến bộ.

7. CÔNG BẰNG TRONG ĐỐI XỬ

Công bằng trong đối xử là đức tính rất quan trọng đối với người lãnh đạo.

-      Người đối xử công bằng thì không bao giờ thiên vị ai và không để tình cảm yêu ghét lấn át mình. Một giáo lý viên thiếu công bằng trong đối xử sẽ tạo ra sự ganh ghét và mối chia rẽ giữa các em mình coi sóc.

-      Người công bằng không tìm tư lợi, danh vọng bản thân nhưng làm tất cả vì ích chung và sự thăng tiến của các tâm hồn.

-      Người công bằng còn dám nhận lỗi về mình chứ không tìm cách thoái thác hay đổ lỗi cho người khác.

8. DẤN THÂN 

Dấn thân là chấp nhận chịu gian khổ, khó khăn cho bản thân mình để đem lại lợi ích cho người khác. Giáo lý viên đã lãnh nhận một sứ mệnh nơi Thiên Chúa và Ngài kêu mời chúng ta hãy dấn thân, hãy gánh lấy bổn phận trong sự tận tụy, hy sinh. Tuy nhiên, sự dấn thân cần phải có sự khôn ngoan đi kèm để có thể nhận định chính xác công việc mình làm là nhắm đến việc phục vụ cách hữu hiệu chứ không bị lừa dối mà làm những công việc vô ích.

9. TRÁCH NHIỆM

Nghệ thuật lãnh đạo và trách nhiệm đi đôi với nhau. Ý thức trách nhiệm là hiểu biết nhiệm vụ của mình, hiểu việc mình làm sẽ gây ra hậu quả thế nào cho người khác và cho chính mình. Từ đó biết chu toàn nhiệm vụ, biết cân nhắc, chọn lựa kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào việc. Và khi được giao phó nhiệm vụ hay đã quyết định làm việc gì thì mọi hậu quả xảy đến, dù thành công hay thất bại, cũng dám lãnh nhận, không thoái thác, không lẩn trốn và không đổ lỗi cho người khác.

Giáo lý viên có tinh thần trách nhiệm sẽ không bỏ qua, quên sót hay coi thường công việc mình đã nhận lãnh nhưng luôn tìm cách làm tốt đẹp nhất và sẵn sàng sửa chữa những thiếu sót trong công việc cũng như những thiếu sót của chính bản thân.

10. SỰ ĐIỀM ĐẠM 

Điềm đạm là thói quen làm chủ được mình, không để cho hoàn cảnh ngoại tại cũng như nội tại làm mất sự trầm tĩnh sáng suốt và tác phong nhu nhã đúng mực của mình. Người điềm đạm là người vẫn có tình cảm rất bén nhạy, nhưng họ biết điều khiển được mọi ảnh hưởng bên ngoài, không để mình mất thăng bằng do vui quá hay buồn quá. Những ảnh hưởng bên ngoài dù mãnh liệt đến đâu cũng không làm thay đổi được sự nhu nhã bên ngoài cũng như sự bình tĩnh sáng suốt bên trong và sự kiên quyết hướng về lý tưởng của mình.

Muốn có được đức điềm đạm, giáo lý viên cần phải bình tĩnh và đúng mực trong mọi hành động, không bất bình với ai dù là với kẻ dưới, với kẻ thù, kẻ nhục mạ mình và không làm gì có thể chạm tự ái của người khác.

Khi có đức điềm đạm, giáo lý viên sẽ không quá lo đến kết quả theo ý mình đến nỗi bất an. Đương nhiên ta phải cố gắng làm cho được điều mình muốn, nhưng khi đã dùng hết cách mà không đạt kết quả mong muốn, chắc chắn ta cũng sẽ đựơc đền bù bằng một kết quả khác cho dù bên ngoài có gặp thất bại.

11. CƯƠNG NHU

Cương nhu là biết tuỳ người, tuỳ việc, tuỳ hoàn cảnh mà đối xử. Tốt nhất là nên dùng nhu vì mềm mỏng bao giờ cũng dễ thuyết phục hơn là cường bạo. Thường thì người biết cư xử mềm dẻo mới là người biết tự chủ và có tinh thần cao. Người thích dùng sức mạnh thường là người yếu và sợ, vì yếu và sợ nên mới dùng sức mạnh để trấn áp kẻ khác, từ đó sinh ra đụng chạm, mất bầu khí an hoà. Thật ra cũng có lúc phải dùng cương, nhưng dùng thế nào để cho người khác thấy đó chỉ là tình thương và lòng ước muốn cho người khác nên tốt hơn.

12. BIẾT ẤN ĐỊNH CHUẨN MỰC CAO

Khi quyết định làm một công việc gì, hãy chuẩn bị kỹ càng, cần định hướng cho đúng, tạo điều kiện tốt và đặt chuẩn mực cao để tiến tới. Tuy nhiên việc đặt chuẩn mực phải cụ thể, thích hợp và có khả năng thực hiện được. Với một kết quả kém trong công việc mà đã làm ta vừa lòng, thì sẽ khó đạt được một kết quả nào khá hơn.

13. TỰ TIN

Người tự tin là biết nhận ra những khả năng của mình và tin tưởng rằng nếu biết tận dụng những khả năng đó, mình sẽ thành công trên đường đời, trở thành người hữu ích. Người tự tin là người khi thi hành một việc gì thì đem tất cả tin tưởng và an tâm thực hiện cho đến khi đạt thành quả tốt đẹp mới thôi. Nếu có gặp trục trặc, họ sẽ suy nghĩ thêm hoặc đi bàn hỏi với những người giầu kinh nghiệm để lại tiếp tục cho đến khi đạt được mục đích.

14. KHIÊM TỐN

Người khiêm tốn là người biết rõ khả năng, những sở trường, sở đoản của mình để sử dụng đúng lúc. Người có khiêm tốn không tự mãn nhưng luôn thận trọng và học hỏi không ngừng. Biết cách thu thập ý kiến hay của kẻ khác và biết phòng xa tiên liệu chứ không chỉ dựa vào khả năng và sự hiểu biết của mình.

15. LẠC QUAN

Lạc quan là thói quen nhìn người khác và nhìn đời bằng cặp mắt vui tươi phấn khởi. Lạc quan không phải là ảo tưởng, không thấy được những mặt trái của cuộc đời. Trái lại người lạc quan thấy rõ tính đa diện và những giới hạn của con người, nhưng vì họ có sức khỏe tinh thần, có lòng bao dung và có niềm tin nên dù đối diện với những khó khăn phức tạp, họ vẫn giữ được sự vui tươi, phấn khởi để bình tĩnh vượt qua mọi trở ngại.

Giáo lý viên cần luyện tập đức tính lạc quan để không dễ chán nản hay thoái lui khi gặp những khó khăn, hiểu lầm trong lúc thi hành sứ vụ.

16. ĐỨC THU TÂM

Đức thu tâm là khả năng thu phục lòng người, biết cởi mở và hiệp nhất với người khác, vì thế cần phải:

-      Dễ thân thiện với bất kỳ ai ta gặp gỡ, tiếp xúc, dù là quen hay lạ, già hay trẻ, bạn hay thù...

-      Dễ cộng tác được với người khác, nhất là những người giỏi hơn mình. Thành công không phải là nhằm trổi vượt hơn kẻ khác để rồi khoe khoang tự hào với sự trổi vượt này. Sự tự hào đó chỉ làm ta xa cách tha nhân, làm mất cảm tình của họ và mất luôn hạnh phúc của ta. Thành công chỉ có giá trị và tạo thành hạnh phúc cho ta khi giúp ta chia sẻ, cảm thông và hiệp nhất được với tha nhân, nhất là với những người trổi vượt hơn ta..

-      Luôn tỏ ra quý trọng người khác bằng cách lắng nghe với tất cả tấm lòng. Biết đặt mình vào vị trí của người khác để hiểu và thông cảm. Không bao giờ lên án, nhưng luôn hoà nhã và niềm nở để giúp người khác tự do, thoải mái, không có gì phải sợ, nhờ đó họ dễ dàng phát huy những tiềm năng của họ.

KẾT: Để có thể chung tay góp sức xây dựng thế hệ tương lai, chắc chắn giáo lý viên phải chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết về mặt đức tính, kiến thức và tài năng. Kiến thức và tài năng thì cần thiết nhưng đức tính thì quan trọng hơn. Ta có thể nói rằng: giá trị thật của con người là ở nhân cách. Nhiều người có tài năng, kiến thức sâu rộng nhưng nếu phần nhân bản còn khiếm khuyết thì chưa gọi là một con người có nhân cách và đạo đức. Một người lãnh đạo tốt trước hết phải là người tốt, có đức độ, có ý thức trách nhiệm cao, có uy tín và được mọi người kính nể.

Khi làm bất cứ một việc to nhỏ nào, người ta cũng cần có thời gian chuẩn bị, huống chi để đạt thành công trong một nhiệm vụ cao cả được Thiên Chúa và Giáo Hội ủy nhiệm, giáo lý viên không thể coi thường việc trau dồi những vốn liếng cần thiết cho sứ mệnh mình. Ngày nay, người ta coi trọng chủ nghĩa cá nhân, vì thế mối liên hệ giữa người với người hình như đang lỏng lẻo và phai nhạt dần. Người ta đang phải nhấn mạnh nhiều đến tình đoàn kết, chia sẻ và yêu thương, bởi vì cái “tôi” đang trở thành trung tâm của mọi sự hiểu biết và mọi lẽ phải. Và, một khi mọi cái đều ưu tiên cho cái “tôi”, thì người ta dễ khoan dung rộng rãi với chính mình mà khắt khe với mọi người.

Để có một khả năng làm việc tốt và dễ thành công trong sứ vụ, giáo lý viên nên nghiêm túc với bản thân bằng cách luôn xét lại cung cách sống và lối làm việc của mình để có thể gọt dũa những thiếu sót. Vì khi bản chất tự nhiên không được tu bồi, giáo lý viên khó có thể sống sung mãn nhân cách của mình. Nhân cách càng cao, chúng ta càng dễ thành công.

Chương II

Chương III

MỤC LỤC