CHƯƠNG III

THĂNG TIẾN CON NGƯỜI

Nhìn vào xã hội ngày nay, một xã hội đầy cạnh tranh và chuyển mình cách mau lẹ; một xã hội thích đề cao những giá trị vật chất, những gì cụ thể trước mắt; một xã hội mà trong đó, con người sống vội vã, thi đua hưởng thụ... Tắt một lời, một xã hội coi nhẹ những giá trị đích thực của cuộc sống. Cái khủng hoảng căn bản của xã hội mà chúng ta đang sống là khủng hoảng về ý nghĩa. Con người hình như đang đói khát cái ý nghĩa, đói khát cái chân thực của đời người. Sống trong bầu khí ấy, dường như chúng ta cũng rơi vào một quỹ đạo mà những cái xấu, những cái trần tục đang vây bọc tư bề. Vậy một giáo lý viên khi ra làm việc, họ cần những gì? Họ phải làm gì để sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, họ phải có những đức tính nào để khi sống giữa những bon chen của trần thế, họ không bị lạc loài, chao đảo và trống vắng.

Dựa vào tài liệu của Bộ Truyền giáo cho các Sắc tộc về việc hướng dẫn các giáo lý viên trong ơn gọi, trong việc đào tạo và thăng tiến đời sống của họ tại các miền truyền giáo, chúng ta nêu lên một vài yêu cầu mà một giáo lý viên phải có, đó là sự thống nhất giữa đời sống thiêng liêng, đời sống tự nhiên và đời sống tông đồ. Nói chung giáo lý viên cần được đào tạo luôn mãi để biết thăng tiến đời sống bản thân và đời sống tha nhân.

1. THĂNG TIẾN ĐỜI SỐNG BẢN THÂN

Thăng tiến bản thân ở đây không nhằm đời sống vật chất nhưng là đời sống tinh thần. Giáo lý viên cần luyện tập những đức tính, nhân cách và những khả năng cần thiết như một hành trang không thể thiếu được trong việc dạy giáo lý:

1-1.     Đời sống tâm linh:

Giữa những bận tâm lo lắng về cuộc sống, giáo lý viên rất khó duy trì sự quân bình đời sống tâm linh. Đây là một thách đố rất lớn đối với chúng ta. Nhưng việc dạy giáo lý trước tiên phải là việc chia sẻ một kinh nghiệm sống với Đức Kitô. Kinh nghiệm càng sâu, lời chia sẻ càng mang tính chân thực. Do đó, chúng ta cần xác tín rằng, đời sống thiêng liêng của giáo lý viên tiến triển ra sao là tuỳ thuộc vào hoạt động của Chúa Thánh Thần và vào tinh thần sẵn sàng của con người. Vậy chúng ta phải làm gì để nâng cao đời sống tâm linh? Thưa phải tập luyện sống đời nội tâm.

Đạo Chúa không phải là mớ lý thuyết nhưng là sự sống. Người ta không thể diễn tả sự sống khi chính mình chưa có kinh nghiệm về sự sống đó. Giáo lý viên không thể giới thiệu Chúa cho tha nhân nếu trong mình chưa có sự sống của Ngài. Vậy làm sao để có sự sống của Đức Kitô? Chúng ta dựa vào thư thánh Phaolô gởi cho giáo đoàn Ephêsô để mô tả con người nội tâm: Tôi quỳ gối trước mặt Thiên Chúa Cha, là nguồn gốc mọi gia tộc trên trời dưới đất. Tôi nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm của anh em được vững vàng. Xin cho anh em, nhờ lòng tin, được Đức Kitô ngự trong tâm hồn; xin cho anh em được bén rễ sâu và xây dựng vững chắc trên đức ái, để cùng toàn thể dân thánh, anh em đủ sức thấu hiểu mọi kích thước dài rộng cao sâu (Ephêsô 3, 14-18). Như vậy, người nội tâm là người:

-      Cảm nghiệm sâu xa tình con đối với Thiên Chúa là Cha bằng cách vận dụng mọi phương tiện có thể, để giúp đào sâu những hiểu biết và kinh nghiệm về Chúa Kitô như học hỏi Kinh Thánh, chia sẻ Lời Chúa, đọc sách đạo đức, tham dự Thánh lễ, bí tích, viếng Thánh Thể, kinh Mân Côi... đó là những điều phải làm thường xuyên trong cuộc sống để củng cố đời sống tâm linh.

-      Muốn làm con như Đức Kitô đã làm con. Các khoá tĩnh tâm, những giờ xét mình... là dịp để giáo lý viên uốn mình rập theo khuôn mẫu của Đức Kitô trong thái độ làm con với Thiên Chúa và làm anh em của mọi người.

-      Để Thánh Thần tự do nắn đúc. Thánh Thần được ban cho Giáo Hội và cho mỗi tín hữu như người Thầy nội tâm, Ngài làm cho ta cảm nhận sâu xa được sự hiện diện của Chúa trong cuộc đời. Ý thức được vai trò đổi mới của Chúa Thánh Thần, giáo lý viên để Ngài tự do tác động và uốn nắn bằng cách tập lắng nghe tiếng Ngài trong đời, nơi Giáo Hội, trong các biến cố để Ngài nắn đúc hình ảnh Đức Kitô trong tâm hồn mình.

Tóm lại, người nội tâm luôn biết sống tình con thảo với Thiên Chúa theo gương Đức Kitô. Họ là người chấp nhận để Chúa Thánh Thần nắn đúc hình hài Đức Kitô trong mình, và một khi có Chúa Kitô trong mình, họ hăng say đem Chúa kitô đến cho người khác. Họ là người gắn bó với Đức Kitô là Đầu và đương nhiên họ cũng gắn bó với anh em là những chi thể của Đầu. Vậy ai có thể làm được điều này nếu không phải là người có đời sống nội tâm sâu xa?

1-2. Nhiệt tình truyền giáo

Giáo lý viên là người có tinh thần truyền giáo như chính Đức Kitô, Ngài đã “đến để thâu họp con cái Thiên Chúa đang tản mác thành một mối” (Jn 11, 52), và Ngài như vị mục tử tốt lành luôn tìm kiếm và hiến thân vì đàn chiên của mình (Jn 10). Do đó, giáo lý viên là người luôn bị thôi thúc bởi lòng nhiệt thành với các linh hồn, bắt nguồn từ lòng yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội. Giáo lý viên luôn nuôi trong mình tinh thần mau mắn dấn thân phục vụ, họ sốt ruột, nóng lòng và khao khát làm một cái gì đó cho Chúa, cho tha nhân. Với tinh thần này, họ tích cực đón nhận sứ mệnh truyền thông Lời Chúa và can đảm phấn đấu trước những khó khăn trong khi thi hành sứ mệnh bằng cách chú ý, ân cần, trắc ẩn, đón tiếp người khác và quan tâm đến những vấn đề của họ.

Câu nói của Bernanos phải làm chúng ta phải suy nghĩ: “Tai hoạ lớn lao nhất của thế giới này, không phải vì có những kẻ nghịch hay chống đạo, nhưng vì chúng ta là những Kitô hữu không có nhiệt tình tông đồ. Thật là điên rồ khi khoe khoang rằng chúng ta đã biết được chân lý, một chân lý toàn vẹn sống động, một chân lý giải thoát và cứu rỗi nhưng lại nằm yên bất lực trong tay chúng ta. Các bạn nói thế giới không chịu trở lại, không chịu sống tốt, nhưng thực ra các bạn đã thiếu nhiệm vụ với thế giới. Cũng vì thái độ thờ ơ của chúng ta nên nhiều người không biết đến dung nhan của Đức Kitô, hoặc là qua các bạn, họ đã thấy một Đức Kitô méo mó, dị hình.”

Câu nói này có tính thúc bách, đồng thời cũng làm chúng ta suy nghĩ và nhìn lại mức độ hăng say của chúng ta. Khi dấn thân trong việc dạy giáo lý là chúng ta đã nói lên ước muốn được sai đi làm việc cho Chúa, nhưng phải làm với thái độ nào, đó là điều chúng ta phải suy nghĩ và học hỏi trong suốt cuộc sống.

1-3. Đức tính nhân bản.

Giáo lý viên là người luôn lớn lên trong đời sống nhân bản để có thể đảm nhận trách nhiệm được trao phó. Họ là người có những đức tính cần thiết trong công việc và cuộc sống, có tinh thần hy sinh, kiên nhẫn và năng động. Nói chung mọi đức tính nhân bản đều rất cần thiết cho vai trò giáo lý viên. Ở đây chúng ta chỉ nêu lên vài đức tính sơ khởi như: lịch sự, vui vẻ, kính trọng tha nhân. Thiết tưởng đó là những đức tính căn bản của giáo lý viên.

·     Giáo lý viên lịch sự trong tác phong, trong cách nói năng, ăn mặc sẽ dễ thu hút người nghe. Con người ngày nay, nhất là giới trẻ thích nhìn vào gương tốt mà bắt chước hơn là chỉ nghe giảng thuyết, họ cần một chứng từ hơn là những kiểu nói hùng biện.

·     Tiếp đến, Giáo lý viên cần phải vui vẻ vì chỉ như thế họ mới thu hút được người khác. Giống như loài ong đến với đám hoa, người ta thích đến với những ai vui tươi và hồn nhiên, nhất là niềm vui nội tâm. Trong sinh hoạt tông đồ, nhiều người đã không làm toả sáng được điều họ muốn truyền đạt. Lý do vì họ không thao luyện cho mình có một niềm vui nội tâm vững chắc và sâu xa. Họ vui nhưng chỉ là cái vui hình thức, cái vui hời hợt bên ngoài. Nhìn vào cuộc đời của Chúa Giêsu, mặc dù Ngài đã dùng Thánh Giá để cứu độ chúng ta, nhưng Tin Mừng của Ngài đã bắt đầu bằng niềm vui Giáng Sinh và kết thúc bằng niềm vui Sống lại. CG khởi đầu việc giảng dạy bằng những mối phúc thật và kết thúc bằng lời hứa một niềm vui “mà không ai cướp đi được” (Jn 16,22). Đọc các thư Phaolô, ta thấy Ngài nhắc với các kitô hữu hơn 50 lần những câu: “hãy vui lên! Hãy giữ lấy niềm vui! Hãy đem sự vui mừng đến cho mọi người”. Tóm lại, vui tươi là một trong những đặc tính của sự thánh thiện, nó chiếu sáng và sưởi ấm mọi người, mọi cảnh vật chung quanh chúng ta.

·     Một điểm khác trong sự trưởng thành nhân bản là biết kính trọng tha nhân. Ý thức về người khác và kính trọng họ không phải chỉ là một nhân đức, nhưng là tổng hợp của ngàn nhân đức âm thầm hay rực sáng. Kính trọng người khác:

-      Đó là phép lịch sự, biết lắng nghe và biết xuất hiện với những cung cách thật dễ thương,

-      Đó là sự thông cảm biết đặt mình vào hoàn cảnh của người khác,

-      Đó là lòng khoan dung, không chắt bóp vụn vặt,

-      Đó là sự dịu dàng, biết đối xử chân tình, không nóng giận,

-      Đó là lòng nhân hậu luôn biết tha thứ,

-      Đó là tâm tình khiêm hạ, luôn nhận ra giá trị của người khác...

Như vậy, điều thiện lớn nhất mà ta có thể làm cho người khác là kính trọng họ.

Tóm lại, lịch sự, vui vẻ, kính trọng tha nhân là những đức tính khởi đầu, từ đó ta có thể xây nên những đức tính khác của một người trưởng thành nhân bản. Mà trưởng thành nhân bản chính là cái nền để xây dựng một người trưởng thành kitô giáo và là điều kiện để làm việc tông đồ có hiệu quả.

1-4. Khả năng chuyên môn

Càng ngày công việc càng được chuyên môn hoá. Đối với việc loan báo Tin mừng, chúng ta cũng cần trở thành những thợ lành nghề, nghĩa là biết cách sống, nóihành động thế nào cho có hiệu quả nhất. Điều này dễ hiểu, chúng ta không thể làm cho người khác tin nếu chúng ta yếu niềm tin, chúng ta không thể nói về Chúa nếu chúng ta chỉ biết sơ sài về Chúa, chúng ta không thể truyền đạt cho ai điều gì nếu chúng ta không có chút vốn liếng nơi mình. Vậy để trở thành con người có đầy đủ chuyên môn trong công tác tông đồ, giáo lý viên cần học hỏi những cách thức, những kỹ năng qua sách vở, qua những khoá đào tạo. Nhưng việc đào tạo chủ động vẫn thuộc về mỗi người chúng ta, người khác không thể nhồi nhét điều gì nếu chúng ta không muốn nhận, hoặc là, người thì muốn nhồi nhét điều này, kẻ thì muốn đón nhận điều kia. Vì thế giáo lý viên cần biết mình đang cần gì, mình có thể phục vụ tốt nhất về phương diện nào để có thể đầu tư nhiều hơn về phương diện ấy. Tuy nhiên, ngoài việc trau dồi một khả năng chuyên môn thích hợp nào đó, chúng ta cần có một kiến thức phổ thông về nhiều lãnh vực khác. Thiết nghĩ đó là một hành trang phong phú sẽ giúp giáo lý viên làm việc có hiệu quả hơn và nhất là có tự tin trong sứ mệnh của mình.

2. THĂNG TIẾN THA NHÂN

Dựa vào những hoạt động bên ngoài, người ta đã định nghĩa về người giáo lý viên như sau: “Giáo lý viên là người vun trồng, bảo vệ và thăng tiến đời sống làm người và làm con Chúa, trong Giáo Hội, theo mẫu Chúa Giêsu Kitô, nơi những người được ủy thác cho mình”. Như vậy giáo lý viên là người luôn biết quan tâm đến hạnh phúc hiện tại và vĩnh cửu của tha nhân.

2-1. Sẵn sàng tiếp nhận tha nhân.

Giáo lý viên là người luôn biết đón nhận người khác cách niềm nở và luôn kính trọng nhân vị của họ, bất kể đó là ai. Đây là một đòi hỏi cơ bản đối với giáo lý viên. Khi tiếp đón người khác, giáo lý viên phải ra khỏi thế giới của mình với những thói quen, những kiểu cách riêng tư để đi vào thế giới của người khác với tất cả những gì khác biệt của họ. Hơn nữa, tiếp nhận tha nhân không phải là thái độ của người trên tiếp nhận người dưới hay thái độ của người cho đối với người nhận.

Một nguy hiểm luôn rình rập người giáo lý viên là dễ chú ý đến những người thuộc về mình, những người mình ưa thích. Nếu giáo lý viên chỉ chú ý đến những người cùng họ hàng, giai cấp, nơi chốn, văn hoá, những người ngoan ngoãn, dễ bảo... điều này không phù hợp với tinh thần của Tin mừng. Chúa Giêsu đã cảnh giác các thầy dạy “Người tội lỗi sẽ vào thiên đàng trước các ngươi” (MT 21-31). Ngài còn nói với các môn đệ: “Ai tiếp đón một kẻ bé mọn nhất trong những người này vì Danh Thầy là tiếp đón chính Thầy” (Mt 18, 5).

Như vậy sự tỉnh thức theo Tin Mừng đòi hỏi Giáo lý viên không được phân biệt hay loại trừ ai. Trong việc dạy giáo lý, chúng ta không được phép bỏ rơi những người nhỏ bé, người dốt, khó bảo hay không thích hợp với kiểu cách, thói quen, phong tục của chúng ta. Tất cả đều có quyền học giáo lý và có quyền được hưởng sự kính trọng, sự ân cần niềm nở và sự quan tâm đặc biệt của chúng ta.

2-2. Chia sẻ

Đặc tính căn bản của cuộc đời tông đồ chính là chia sẻ, chia sẻ với người khác sự sống của Đức Kitô. Giáo lý viên là người đồng hành với Đức Kitô (Cv 1,21). Họ được Chúa kêu mời, lên đường với người, lắng nghe Nguời, cầu nguyện với Người và sau đó được Người sai đi chia sẻ lại những gì đã lãnh nhận. Nhưng chia sẻ cách nào?

·     Chia sẻ những khổ đau: Giáo lý viên không phải chỉ là nói về Chúa cho người khác, nhưng còn là gánh lấy những đau khổ và tuyệt vọng của họ. Cụ thể, sứ mệnh của giáo lý viên không hứa cho chúng ta một kiểu cách sống yên ổn, không xáo động nhưng có khi làm chúng ta phải vất vả, mất thăng bằng. Vì muốn tìm hạnh phúc của người khác, sứ mệnh sẽ đưa chúng ta vào một chỗ khác, nó thúc đẩy chúng ta đi đến những môi trường mới để vươn tới và ôm ấp lấy những gì rất xa lạ, và cũng có khi rất khó chịu. Ngoài ra, lòng trắc ẩn của giáo lý viên còn đỏi hỏi một sự chia sẻ vật chất: chia cơm sẻ áo cho người đói rách và biết tìm chỗ tựa nương cho những ai không tìm được chốn dung thân. Nói chung, đời tông đồ cũng có lúc làm chúng ta bị thương tổn và có khi rất căng thẳng, nhưng tất cả những điều đó chỉ là cơ hội để chúng ta chia sẻ hạnh phúc của mình cho tha nhân. Vì phương thế tốt nhất để chia sẻ hạnh phúc là biết chia sẻ hạnh phúc.

·     Chia sẻ những gì tốt đẹp: Một trong những hình thức cao độ của tình yêu là chia sẻ những gì tốt đẹp nhất của mình cho người khác. Đó có thể là khả năng, đức tính, những gì nâng cao đời sống tha nhân và nhất là làm cho họ cảm thấy được yêu thương. Giáo lý viên là người có tình yêu thương và tình yêu này trải rộng đến bất cứ ai. Giáo lý viên luôn sống trung thực với điều mình giảng dạy là truyền đạt sứ mệnh yêu thương. Giáo lý viên luôn gieo rắc bình an hạnh phúc và làm cho người khác tươi nở vì sự quan tâm kính trọng của mình. Tóm lại giáo lý viên là người nhờ ơn Chúa để yêu thương và để tự hiến bản thân mình vì lợi của tha nhân.

2-3. Tích cực xây dựng cộng đoàn xứ đạo:

Trách nhiệm của giáo lý viên là tích cực cộng tác với cha xứ để xây dựng xứ đạo. Việc xây dựng này có khi phải đánh đổi bằng những mất mát, những đau thương, những hiểu lầm, những va chạm, nhưng chính qua những cái đó giáo lý viên mới có thêm kinh nghiệm và khả năng kiến tạo và trao tặng hạnh phúc cho người khác. Là thành viên của một xứ đạo, giáo lý viên không có quyền tách biệt khỏi nhịp sống của xứ đạo và nhất là không có quyền hạnh phúc một mình. Vì vậy chúng ta nên tự hỏi: Tôi có làm cho người khác được triển nở khi họ sống với tôi không? Tôi có cho người khác cơ may chia sẻ những gì họ gặp không? Tôi có tích thực tham gia những công việc chung của xứ đạo không?     

Khi cùng sống trong một cộng đoàn giáo xứ, vai trò giáo lý viên phải là sợi dây nối kết mọi người trong tình huynh đệ hiệp thông. Tất cả đều cần đến nhau để nâng đỡ, khích lệ và để làm gương sáng cho nhau.

Với những tâm tình ấy, chúng ta không quên một điều là Chúa không cần gì vĩ đại vượt sức mỗi người nhưng cần sự cố gắng cộng tác dù là nhỏ bé thôi. Đời sống chúng ta phải lan toả được Chúa cho người khác, và ngần nào có thể, dù chỉ là một nụ cười.

Trước khi kết thúc, chúng ta nhắc lại câu nói của ECKHART: “Không nên lo lắng quá nhiều về những điều chúng ta phải làm, tốt hơn nên nghĩ cách phải sống thế nào. Nếu bản thân và đường lối của chúng ta tốt, thì những gì chúng ta làm sẽ toả sáng”.

Kết luận:

Một giáo lý viên đúng nghĩa phải là người dung hoà được cả hai đời sống tâm linh và hoạt động tông đồ. Hoạt động mà không biết cầu nguyện là thiếu nguyên tắc căn bản, cầu nguyện mà không có hành động là thiếu đất gieo hạt. Nhưng trong thực tế, chúng ta dễ rơi vào tình trạng mất quân bình, nghĩa là chỉ để ý phải lo dạy giáo lý thế nào mà không chú ý đến việc củng cố đời sống tâm linh. Thật ra, để dạy giáo lý cho có hiệu quả, chúng ta phải không ngừng trau dồi về đời sống tâm linh và khả năng tông đồ. Nhưng nói cho cùng thì điểm phải nhắm tới trước tiên là việc gắn bó với Chúa Kitô và lấy Lời Ngài làm nền tảng cho mọi lời rao giảng của chúng ta. Chúng ta nhắc lại ở đây câu nói của LYAUTEY: Tất cả mọi sự đều phải quân bình và có trật tự. Đồng hành với hoạt động là cầu nguyện; đồng hành với những cố gắng bên ngoài là đời sống nội tâm.

Tóm lại, giáo lý viên là người:

-      Luôn say mến Chúa Kitô và muốn cho mọi người cũng biết và yêu mến Ngài.

-      Luôn gắn bó với Giáo Hội trong tinh thần cộng tác, hiệp thông và vâng phục.

-      Luôn thao thức về cuộc sống hiện tại và mai sau của con người, đồng thời tìm mọi cách để đem hạnh phúc đến cho họ.

Sau cùng Giáo lý viên nhìn lên Đức Maria như mẫu gương tuyệt hảo của mình: luôn mau mắn lắng nghe, đón nhận và rao truyền Lời Chúa, luôn biết cộng tác với Thiên Chúa trong công trình cứu độ và luôn nhạy cảm trước mọi nhu cầu của con người


Chương I

Chương II

MỤC LỤC