CHƯƠNG II

GẮN BÓ VỚI GIÁO HỘI

Khi giáo lý viên đã yêu mến Chúa Kitô thì không thể không yêu mến Giáo Hội là thân thể của Người. Cũng như đầu và thân thể nối kết và truyền thông sự sống cho nhau thế nào, Chúa Kitô và Giáo Hội cũng liên kết mật thiết với nhau như vậy. Hơn nữa, qua Giáo Hội, Thiên Chúa còn ban cho chúng ta sự sống thần linh của Người. Vì thế, yêu mến Giáo Hội là một bổn phận tự nhiên cũng giống như bổn phận của con cái đối với cha mẹ. Lòng yêu mến này được cụ thể hoá bằng thái độ vâng phục các vị chủ chăn, biết bênh vực đường lối của Giáo Hội và cộng tác với Giáo Hội trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng.

1. VÂNG PHỤC GIÁO HỘI

Lòng vâng phục Giáo Hội không chỉ là một tình cảm tự nhiên và trần thế, nhưng trước hết bắt nguồn từ đức tin vì Giáo Hội là Thân thể Chúa Kitô và chính Đức Kitô đã trao quyền cho Giáo Hội khi xác định điều này: “Ai nghe các con là nghe Ta, ai không nghe các con là không nghe Ta. Ai không nghe Ta là không nghe Đấng đã sai Ta” (Lc 10, 16). Như vậy Giáo Hội là người trực tiếp thay quyền Chúa, luôn chỉ cho chúng ta con đường phải đi để đạt tới ơn cứu độ. Vì thế lòng vâng phục của chúng ta đối với Giáo Hội phải trọn vẹn và đượm tình con thảo.

Ngày nay, vâng phục Giáo Hội là một điều khó đối với một số người. vì Giáo Hội tại thế thường phải dạy dỗ và hoạt động trong những hoàn cảnh lịch sử rất khó khăn và tế nhị. Giữa một xã hội đầy kích động và hỗn độn, giáo huấn của Giáo Hội dễ bị coi thường hoặc bị phi bác. Nhưng chúng ta nhớ rằng Giáo Hội luôn đi sát Tin mừng Chúa Kitô và qua Giáo Hội, Chúa Giêsu tiếp tục dạy dỗ ta. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi lời dạy dỗ hay hành động của các vị chủ chăn đều đúng, đều hợp thời. Nhiều khi những hoàn cảnh phức tạp làm cho các ngài có những quyết định mà ta khó chấp nhận, nhưng dù sao, các ngài không bao giờ muốn làm gì thiệt hại đến ơn cứu độ của người khác. Vậy khi có những bất đồng với các vị chủ chăn, giáo lý viên nên khiêm tốn đối thoại, kiên nhẫn chờ đợi, đôi khi phải từ bỏ cả ý riêng và tìm cách khám phá ra ý Chúa trong lời các ngài dạy bảo để vâng phục và cộng tác trong tinh thần xây dựng, vì tin rằng Thiên Chúa quyền năng có thể biến những điều dở thành điều có lợi cho chúng ta và Thiên Chúa có thể dùng những điều thế gian cho là điên dại để làm nên những việc lớn lao.

Trong tâm tình người con, giáo lý viên không chỉ vâng phục cách máy móc theo lệnh từ trên ban xuống nhưng còn nhạy cảm trước mọi nhu cầu của Giáo Hội. Vì là một thành viên trong Giáo Hội, giáo lý viên luôn đồng cảm với Giáo Hội, nghĩa là cùng chia sẻ niềm vui nỗi buồn chung và nhất là luôn giữ thái độ ủng hộ Giáo Hội bằng cách hưởng ứng tích cực việc thực thi và truyền đạt giáo huấn lành mạnh của Giáo Hội.

Sự vâng phục mà Giáo Hội mong muốn nơi con cái mình sẽ không giết chết sáng kiến và tinh thần trách nhiệm của mỗi người. Trái lại sự vâng phục sẽ là cơ hội để thể hiện những sáng kiến tốt đẹp của mình đối với các huấn lệnh của Giáo Hội.

2. BÊNH VỰC GIÁO HỘI

Ngày nay Giáo Hội luôn bị tấn công và hiểu lầm, nhiều người không còn tin vào Giáo Hội vì cho rằng trong Giáo Hội cũng đầy những gương xấu. Thật ra, Giáo Hội là Dân Thánh của Thiên Chúa nhưng vì Giáo Hội có một tổ chức hữu hình, luôn mang một bộ mặt trần thế, nên có thể có những lỗi lầm do những con người trong Giáo Hội gây ra. Hiến chế về Giáo Hội đã khẳng định: Giáo Hội là Thánh nhưng từ trong lòng Giáo Hội có những người con tội lỗi (Giáo Hội số 8). Vì bao lâu còn trên đường lữ thứ trần gian, Giáo Hội còn tiến bước giữa những cám dỗ (Giáo Hội số 9). Thêm vào đó đôi khi Giáo Hội lại sửa dạy những điều trái ngược với ý riêng của nhiều người, nên dễ bị chống đối.

Nhìn lại lịch sử Giáo Hội, chúng ta chấp nhận rằng Giáo Hội vẫn có những sai sót, phạm lỗi, bởi vì Giáo hội luôn ôm ấp trong mình những con người còn nhiều yếu đuối, nhưng hằng ngày, chính Giáo Hội không ngừng sám hối cho con cái mình. Bản chất Giáo Hội là thánh thiện và sự thánh thiện này đã được bộc lộ qua lối sống gương mẫu của biết bao vị thánh. Do đó Giáo Hội vừa thánh thiện vừa phải luôn nhắc nhở chính mình ý thức về thân phận hữu hạn của mình để không ngừng sám hối và canh tân (Giáo Hội số 8).

Giáo lý viên là người mà qua Giáo Hội, được Chúa sai đi rao giảng, nghĩa là được ở với Người và được tham dự vào công việc của Người. (Mc 3,14) Vì thế, trong mức độ của mình, giáo lý viên có bổn phận bênh vực Giáo Hội, không phải bằng các cuộc đấu khẩu hay bút chiến, nhưng bằng việc phổ biến giáo lý lành mạnh của Giáo Hội và bằng cách sống gương mẫu. Chúng ta đừng quên rằng sự toàn hảo của Giáo Hội lệ thuộc vào hạnh kiểm của chúng ta.

3. CỘNG TÁC VỚI GIÁO HỘI

Sứ điệp Tin mừng mà giáo lý viên trình bày không phải là của riêng mình, nhưng đã được Chúa Kitô ủy thác cho Giáo Hội, vì thế giáo lý viên không trình bày như ý kiến riêng mà phải truyền đạt theo đúng ý muốn của Giáo Hội. Giáo lý viên có thể cộng tác với Giáo Hội trong hai lãnh vực:

3-1. Bên trong Giáo hội

Trong tâm tình của người con, giáo lý viên tích cực xây dựng đời sống đức tin và đức mến, luôn tiếp tay với các vị chủ chăn để giúp các tín hữu sống đạo một cách có chiều sâu, đồng thời họ trở nên dây bác ái liên kết mọi người trong cộng đoàn xứ đạo. Khi dạy giáo lý, giáo lý viên giúp các tín hữu đào sâu và sống trưởng thành đức tin, nhưng đôi khi thái độ của giáo lý viên lại là một phản chứng, nghĩa là thay vì cộng tác chúng ta lại phá đổ; thay vì đem người khác đến gần Chúa, ta lại làm họ xa Chúa vì những thái độ của chúng ta. Để cho sứ điệp Chúa Kitô được tự do nẩy sinh trong tâm hồn người khác, thiết tưởng giáo lý viên cần chú ý đến một số thái độ sau:

·     Từ bỏ thái độ “thầy dạy”

Trong Giáo Hội, có một số người cho rằng xã hội càng ngày càng xa đoạ và họ kết án Giáo Hội đã không làm việc cho đủ. Đối với người quá cấp tiến, họ chống đối Giáo Hội là đã không bắt kịp với đà tiến của con người. Đối với người quá bảo thủ, họ thu mình lại, không làm gì hoặc là quá nhiệt tâm muốn lôi kéo người khác theo mình bằng bất cứ cách nào. Những thái độ trên đều cho thấy một sự bất ổn sâu xa, đồng thời biểu lộ ý muốn bá chủ đã lỗi thời trong truyền thống đức tin, không thích hợp với Tin Mừng.

Để sống theo Tin Mừng, giáo lý viên luôn giữ thái độ tin tưởng vào ơn Chúa hơn là vào khả năng của mình. Kinh Thánh đã nói: “Người này gieo, kẻ khác gặt (Jn 4, 37) hay “Nước trời giống như một người đi gieo hạt xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức thì hạt giống vẫn nẩy mầm và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết (Mc 4, 26-27).

Các hình ảnh Kinh Thánh này nhắc nhở giáo lý viên: có phải chỉ cần chúng ta làm tận lực, làm giỏi, là việc rao giảng Tin Mừng sẽ hoàn thành? Thật ra chúng ta không có khả năng làm cho người khác đón nhận Tin Mừng, nhưng khi làm công việc này, trước hết giáo lý viên phải tin tưởng vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần, Ngài luôn hoạt động trong Giáo Hội và thế giới. Tiếp đến cần phải tin vào khả năng đón nhận ơn Chúa của mọi tâm hồn, tức là vào ân sủng và tự do. Giáo lý viên chỉ là người gieo hạt, tưới nước, bón phân nghĩa là tạo điều kiện để Lời Chúa lớn lên trong các tâm hồn, còn việc hạt giống nẩy mầm và sinh hoa kết trái là việc của Chúa và sự sẵn sàng của các tâm hồn.

Như vậy trong việc dạy giáo lý, giáo lý viên phải từ bỏ giọng điệu thầy thợ, quá tin tưởng vào sức lực và tài năng của mình. Tuy nhiên sự từ bỏ này không được đi đến chỗ là không làm gì hoặc làm một cách thụ động, qua loa chiếu lệ. Trái lại nó làm ta can đảm hành động, biết sáng tạo và thích nghi hơn.

·     Đặt cho đúng trách nhiệm của mình

Việc từ bỏ thái độ thầy dạy không làm giáo lý viên thụ động nhưng dấn thân tích cực hơn trong trách nhiệm. Vai trò giáo lý viên là làm sao tạo ra những điều kiẹn để đức tin có thể được đón nhận. Giáo lý viên có thể sửa soạn mảnh đất và tưới bón cho cây lớn lên. Nhưng thực là vô ích khi cứ tưới đại hay cầm lá mà kéo cho cây mau lớn. Ta không thể làm thay Chúa Thánh Thần hay thay trách nhiệm của người khác. Một khi chúng ta có lòng nhiệt thành vô trật tự, chúng ta sẽ đi quá giới hạn của mình. Một thái độ đúng đắn trong việc dạy giáo lý là không được từ nhiệm cũng không được làm cho qua lệ, nhưng là luôn quan tâm nghiên cứu những điều kiện thuận lợi để đức tin được tăng trưởng không ngừng.

·     Không chặn đứng sự tiến triển đức tin của người khác

Một khi đã tin vào ân sủng và tự do, giáo lý viên không biến người học giáo lý thành một bức ảnh chụp lại hay một bản sao theo cách sống, theo lối suy nghĩ và cách biểu lộ đức tin của mình. Trong vấn đề giáo dục, người ta dễ bị cám dỗ là bắt người khác rập theo hình ảnh của mình. Họ muốn áp đặt người khác phải làm theo những tập tục, kiểu cách của mình. Trong việc dạy giáo lý, sự cám dỗ này cũng luôn rình rập người giáo lý viên. Mỗi người có một lối sống, một thói quen, một lòng sùng kính, một kiểu cách giữ đạo và người ta muốn người khác phải sống theo khuôn đúc của mình. Chính vì thế Tông huấn Dạy Giáo lý đã viết: “Giáo lý viên không được tìm cách quy hướng về chính mình, về các ý kiến và thái độ cá nhân của mình; nhất là họ không được tìm cách ghi tạc vào lòng học viên các ý kiến và cảm nghĩ cá nhân của chính mình, chẳng khác gì các ý kiến và cảm nghĩ ấy diễn tả giáo lý và các bài học về đời sống Đức Kitô” (DGL 6). Do đó điều quan trọng là không bao giờ chúng ta được chặn đứng sự tiến triển đức tin của người khác bằng những quy định cá nhân hẹp hòi về niềm tin hay lối sống của mình. Tuy rằng giáo lý viên phải làm chứng về cách sống đức tin của riêng mình, nhưng không phải là sản xuất ra một mẫu người y hệt mình. Hãy giúp cho người học giáo lý khám phá ra tính chân thực của Tin Mừng và tăng trưởng đức tin trong những điều kiện của họ.

3-2. Bên ngoài Giáo Hội

Giáo lý viên luôn tích cực tham gia vào việc mở rộng nước Chúa. Nếu Công Đồng Vaticanô II định nghĩa: “Giáo Hội tự bản tính là truyền giáo”[1] thì giáo lý viên phải ý thức rằng đó cũng chính là sứ mệnh của mình, được bắt nguồn từ mệnh lệnh của Đức Kitô: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy họ tuân giữ các điều Thầy đã truyền dạy cho anh em”[2].

Việc loan báo Tin mừng này luôn được Giáo Hội coi là một nhiệm vụ ưu tiên[3], một bổn phận thiêng liêng[4], một mối bận tâm hàng đầu[5]. Đặc biệt Đức Thánh Cha Phaolô VI, trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng đã thúc bách toàn thể giáo Hội phải ý thức và dồn hết mọi nỗ lực của mình vào việc loan báo Tin mừng. Vậy giáo lý viên phải làm gì để tham gia vào việc mở rộng nước Chúa?

Dựa vào chương II của Tông huấn Loan báo Tin mừng, chúng ta nêu lên mấy yếu tố sau đây:

·     Làm mới bộ mặt nhân loại: giáo lý viên có thể làm mới lại bộ mặt nhân loại bằng cách thay đổi tự bên trong con người của mình cũng như tìm cách hoán cải lương tâm từng cá nhân và tập thể của con người [6], tìm cách nâng cao mọi sinh hoạt mà con người đang dấn thân vào[7], giúp đổi mới đời sống và hoàn cảnh cụ thể của họ[8], dùng những giá trị Tin mừng để hướng dẫn những tiêu chuẩn phán đoán, cách suy nghĩ và những mẫu mực sống của nhân loại khi những điều ấy ngược với Lời Chúa và chương trình cứu độ[9].

·     Làm chứng tá bằng sự hiện diện, bằng thái độ sống, bằng gương sáng. Đức Phaolô VI khẳng định rằng: “Một đời sống gương mẫu đã là sự công bố Tin Mừng tuy thầm lặng nhưng rất mãnh liệt và hiệu nghiệm”[10]. Thật vậy, nếu chỉ làm chứng bằng lời nói suông, lời chứng của chúng ta không có hiệu nghiệm. Với gương sáng, với thái độ sống tốt lành, đời sống của mỗi giáo lý viên trở nên một bài giảng hùng hồn về Tin mừng, vì đời sống tốt lành và chân thực mới có sức thuyết phục được người khác hơn là những lý thuyết trừu tượng. Người ta đoán có mặt trời khi nhìn ánh sáng rọi qua đám mây... Ước gì người ta cũng nhận ra Đức Kitô qua đời sống của giáo lý viên.

·     Dấn thân trong các hoạt động tông đồ, xã hội: Giáo Hội ngày nay rất quan tâm đến vấn đề xã hội, đến công lý và hoà bình. Trước khi giúp người khác quan tâm đến các vấn đề xã hội, giáo lý viên phải là người đã từng thao thức và đã dấn thân vào các hoạt động xã hội từ thiện. Những hành vi này chính là “sự trắc nghiệm của chân lý, là đá thử vàng của việc Phúc âm hoá”[11].

Vài nét nổi bật cho thấy Tông huấn đã nêu lên những điểm then chốt trong việc loan báo Tin mừng, một nhiệm vụ tối quan trọng của Giáo Hội cũng như của mỗi Kitô hữu. Thật vậy, trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ: “Hãy đi khắp thế giới rao giảng Tin mừng cho mọi thụ tạo...”[12]. Việc truyền giảng này cần thiết để khơi dậy niềm tin nơi các tâm hồn. Do đó Thánh Phaolô đã khẳng định: “Làm sao người ta có thể tin nếu không được nghe Tin mừng, làm sao có thể nghe Tin mừng nếu không có người đi rao giảng... Vậy tin là do nghe truyền giảng, mà nghe giảng là do công bố Lời Đức Kitô”[13].


Chương I

Chương III

MỤC LỤC



[1] TG 2

[2] Mt 28, 19-20

[3] DGL 15

[4] DGL 14

[5] LBTM 1

[6] LBTM 18

[7] LBTM 18

[8] LBTM 18

[9] LBTM 19

[10] LBTM 21

[11] LBTM 24

[12] Mc 16, 15

[13] Rm 10, 14-17