CHƯƠNG I

YÊU MẾN CHÚA KITÔ

Hằng ngày, qua kinh Lạy Cha, chúng ta tuyên xưng Chúa là Cha và mọi người là anh em. Như vậy đạo của chúng ta là bổn phận làm con Chúa và làm anh em của mọi người. Nói một cách giản dị: chúng ta chỉ cần sống đúng một đứa con ngoan, một người em tốt. Nhưng làm con ngoan thì phải sống thế nào? Trước hết giáo lý viên phải có lòng tôn kính Thiên Chúa, nghĩa là phải tôn thờ Ngài cách tuyệt đối và luôn chọn Ngài như điểm tựa duy nhất của đời mình.

1. ĐẶT CHÚA LÊN TRÊN HẾT[1]

Trong cuộc sống giáo lý viên, ít khi có tình trạng một người hoàn toàn loại Chúa ra khỏi cuộc đời hay công việc của mình, nhưng điều thường xẩy ra là có những giáo lý viên không tôn kính Ngài cho đủ, nghĩa là không đặt Chúa vào đúng vị trí của Ngài. Họ đặt Thiên Chúa ngang hàng hơn kém giữa biết bao giá trị khác của đời sống. Cuộc đời con người thường được hướng dẫn hay bị chi phối bởi nhiều hấp lực, mỗi lúc một hấp lực khác nhau. Vì vậy, khía cạnh thứ nhất đòi nhiều cố gắng trong đời sống của giáo lý viên là đặt Chúa lên trên hết bằng cách quy hướng tất cả cuộc sống về Thiên Chúa như đỉnh cao duy nhất để Ngài hướng dẫn và chi phối tất cả hoạt động của mình. Chúng ta quan sát hai sơ đồ sau đây:


Sơ đồ 1: Chúa Giêsu được xếp ngang hàng

giữa các giá trị khác 

Sơ đồ 2: Chúa Giêsu chi phối mọi sinh hoạt của đời sống

 


Sơ đồ thứ nhất diễn tả một cuộc sống đặt Thiên Chúa ngang hàng với mọi tạo vật khác. Chỗ đứng của Thiên Chúa cũng là chỗ đứng của bao vấn đề trong cuộc sống. Ngài không được tôn kính cho đủ và Ngài cũng không có ảnh hưởng gì đặc biệt trên cuộc sống của họ. Trong khi đó sơ đồ hai biểu thị cuộc sống của những người biết đặt Chúa lên trên hết, chính Ngài chi phối, điều khiển mọi hành vi, mọi cung cách sống của mình. Đó là những người biết đặt Thiên Chúa vào đúng vị trí của Ngài.

Sau những ngày tháng hăng say trong việc dạy giáo lý, chắc chắn mỗi giáo lý viên đều xác tín rằng: Sứ mệnh của chúng ta chẳng đi đến đâu nếu không phải là do Thiên Chúa hướng dẫn cho chúng ta. Lời rao giảng của chúng ta chẳng có nghĩa gì nếu không phải là chính Thiên Chúa nói. Sự tận tâm của chúng ta sẽ chẳng có giá trị gì nếu không phải chính Thiên Chúa làm cho nó phong phú thêm lên. Như vậy nền tảng của mọi việc tông đồ chính là Thiên Chúa và cái trục giao liên giữa giáo lý viên với Thiên Chúa chính là lòng yêu mến.

2. YÊU MẾN CHÚA

Nếu giáo lý viên biết quy tụ tất cả cuộc sống về Chúa đã là điều tốt, nhưng như thế vẫn chưa đủ, mà còn cần phải móc nối được mối dây liên lạc cá nhân thân tình với Thiên Chúa nữa, vì nếu không có được mối dây thân tình mật thiết với Chúa thì cũng rất khó quy tụ tất cả cuộc sống về Chúa được. Vậy cụ thể, giáo lý viên biểu lộ lòng yêu mến Thiên Chúa bằng cách:

2-1. Học hỏi và sống Lời Chúa:

Giáo hội được nuôi dưỡng và được sống bằng Lời của Chúa, vì thế Giáo hội luôn kêu mời chúng ta cố gắng học hỏi và khám phá trong kho tàng Thánh Kinh, những chân lý giải thoát và dẫn đưa tới ơn cứu độ. Vậy để sống Lời Chúa, giáo lý viên cần có những thái độ sau:

-      Đọc Lời Chúa theo sự chỉ dẫn của Giáo hội để có thể tìm ra ý nghĩa đích thực. Mỗi người, tuỳ theo nhu cầu tâm linh và trình độ, có thể hiểu tới mức độ nào đó điều Chúa muốn nói với mình, nhưng sự hiểu biết này phải luôn nằm trong sự giải thích của Giáo hội.

-      Giáo lý viên đọc Lời Chúa với tâm tình của Phêrô: “Lạy Chúa chúng con biết theo ai? Chúa mới có những Lời ban sự sống đời đời” (Jn 6, 67-68). Tâm tình này xác định mục đích và mọi sinh hoạt của đời sống đều phải quy chiếu về Đức Kitô. Ngài đang chờ đợi, từng người cũng như tất cả, để giúp chúng ta sống gắn bó với Ngài.

-      Đọc Lời Chúa như đọc lời tâm sự của một người bạn chí thiết muốn nói riêng với mình trong giây phút này, trong hoàn cảnh cụ thể, để thấy Lời Chúa luôn mới mẻ, thích hợp, và qua đó, ta để cho Lời Chúa chất vấn cuộc sống của ta. Như vậy giáo lý viên đón nhận Lời Chúa như một hồng ân, hồng ân này biến đổi toàn bộ đời sống giáo lý viên trở thành nhân chứng cho Lời Chúa.

-      Lời Chúa không phải chỉ để đọc, để nghiên cứu, để hiểu, nhưng là lương thực để sống nên cần phải được đón nhận với tất cả sự khao khát của tâm hồn. Vì vậy, Lời Chúa phải thực sự đi vào cuộc sống, nghĩa là làm đổi mới được cung cách sống của mình, lúc đó ta mới nói được là đã sống Lời Chúa cách cụ thể và sinh động.

-      Giáo lý viên tìm thêm nhưng dịp học hỏi Lời Chúa, đặc biệt qua những sinh hoạt phụng vụ và chia sẻ Lời Chúa để Lời Chúa thấm mãi vào từng biến cố lớn nhỏ trong đời sống và tự do hành động trong chúng ta. Một khi được Lời Chúa hướng dẫn, chúng ta mới có thể nhận ra sự hiện diện của Chúa trong cuộc sống thường nhật và mới có thể sống thật sự tình con thảo với Người.

2-2. Tham gia tích cực vào việc cử hành phụng vụ

Bên cạnh những việc đạo đức được Giáo hội khuyến khích, có những kinh nguyện và nghi thức được Giáo Hội lập ra và được nhận làm phương thế thờ phượng chính thức gọi là phụng vụ như Thánh Lễ, các Bí Tích và Kinh Thần Tụng. Như vậy phụng vụ là sự thờ phượng toàn diện của Nhiệm thể Chúa Kitô. Nói rõ hơn, phụng vụ là sự thờ phượng của Đức Kitô dâng lên Chúa Cha. Ngài dâng với tư cách là Đấng Cứu thế và là đầu của Giáo hội.

Phụng vụ luôn hướng về Thiên Chúa, có mục đích tôn vinh Thiên Chúa nhưng cũng để thánh hoá con người. Ta có thể nói: thánh hoá loài người là lý do tiên quyết để thờ phượng Chúa. Vậy toàn thể Giáo hội do ơn gọi của mình phải thờ phượng Chúa, mà ơn gọi của Giáo hội cũng giống như ơn gọi của Israel xưa là trở thành “Dân Tư tế” (Xh 19,6). Theo thánh Phêrô, Dân Tư tế thì phải tôn thờ Chúa qua việc “dâng lễ tế thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa” (1 P 2,5). Dân Tư tế phải dâng lễ tế thiêng liêng này trong suốt cuộc đời, nhưng lễ tế đó đạt tới đỉnh cao và được hoàn tất trong phụng vụ.

Hiểu được sự quan trọng của phụng vụ trong đời sống kitô hữu, giáo lý viên chăm chỉ tham gia việc cử hành phụng vụ cách chủ động và ý thức. Sự tham gia chủ động và ý thức này được diễn tả:

-      Qua việc đối đáp: Mọi sinh hoạt phụng vụ của Giáo hội đều có tính cách cộng đồng. Vì vậy mọi tín hữu phải tham gia cách chủ động và có ý thức. Việc tham gia tích cực không những bằng tâm tình bên trong nhưng còn bằng việc hoà hợp một lòng một ý trong lời kinh tiếng hát cũng như những lời đối đáp giữa chủ tế và cộng đoàn trong khi cử hành phụng vụ. Do đó phải tránh sự thụ động hoặc ngồi im lặng nhìn như khách bàng quan.

-      Qua thái độ và cử chỉ: Phụng vụ không phải chỉ là tâm nguyện, nhưng còn được diễn tả bằng thái độ của thân xác. Những thái độ cử chỉ này không có tính cách tự phát nhưng được quy định và luôn mang một ý nghĩa nào đó.

Thí dụ: Đứng: diễn tả lòng tôn kính, suy tôn. Ngồi: là tư thế của người lắng nghe, đón nhận. Quỳ: là thái độ cầu nguyện, đồng thời là biểu hiệu của lòng sám hối, tự hạ. Cúi mình: diễn tả sự phủ phục tôn thờ.

-      Qua tinh thần hiệp thông: Mọi người tham dự phải đồng tâm nhất trí trong một tinh thần, một tình huynh đệ. Kinh thánh đã nhắc nhở chúng ta phải có tinh thần này: Hãy làm hoà với nhau trước khi dâng thánh lễ (Mt 5, 23). Phải dẹp bỏ những tranh chấp, ích kỷ gây tiếng xấu (1Cor 11, 21). Do đó, cần giữ được tinh thần hiệp nhất, đại đồng trong cách diễn tả đức tin và cầu nguyện, vì ở đâu có sự đồng tâm nhất trí thì ở đó có Thiên Chúa ngự trị (Mt 18, 20). Giáo lý viên là người giúp cho người khác tham dự cách hữu hiệu vào các giờ cử hành phụng vụ thì trước tiên phải là người hiểu và sống phụng vụ cách tích cực.

2-3. Cầu nguyện:

Ngoài việc hăng say học hỏi Lời Chúa và tích cực trong các sinh hoạt phụng tự, Giáo lý viên còn sống tương quan mật thiết với Chúa Kitô bằng một đời sống cầu nguyện. Chúng ta cần phân biệt việc cầu nguyện và tinh thần cầu nguyện. Việc cầu nguyện là dành một số giờ trong ngày, trong tuần để cầu nguyện riêng hay để làm các phận vụ thiêng liêng của một người kitô hữu. Tinh thần cầu nguyện là bầu khí kết hợp thân mật với Chúa bao trùm cả ngày sống, 24/24 giờ. Nhưng bằng cách nào?

Giáo lý viên, là người làm việc cho Chúa, nên không thể chỉ biết đi lễ hay tham dự các bí tích theo luật buộc, rồi cả ngày chúng ta loay hoay một mình với bao công việc. Điều quan trọng là làm sao biến đời mình thành một lời kinh liên lỉ. Cầu nguyện đích thực là một phương cách sống tốt lành trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Ai khám phá được sự hiện diện của Thiên Chúa trong từng giây phút cuộc đời mình, sẽ cảm thấy bình an và hạnh phúc vì Thiên Chúa chính là căn nguyên sự bình an và là niềm vui cho mọi sinh hoạt cuộc đời.

Thật ra, nếu chúng ta biết tìm đúng nguồn mạch của đời sống, chúng ta sẽ thấy Chúa chan hoà trong từng phút giây. Và bất cứ ở đâu, dù có bận rộn với bao công việc, dù trong khi cầu nguyện cũng như lúc làm việc, trong khi buồn khổ hay lúc được vui thoả, Đức Kitô cũng ở đó, Ngài ở bên và đồng hành với ta trong mọi nơi mọi lúc. Sống tâm tình ấy, các hoạt động bên ngoài của chúng ta cũng được biến thành một lời cầu nguyện rất cụ thể, đơn sơ và sống động.

Giáo lý viên là người mang Chúa đến cho người khác nên điểm đặc trưng của tất cả cuộc đời của họ là tình mến Chúa Kitô. Lòng mến này tiến triển theo ba cách:

·     Hiện diện: Sự hiện diện của Chúa là nguồn hứng khởi, là sức mạnh nâng đỡ, là điểm chi phối toàn bộ đời sống giáo lý viên.

·     Gặp gỡ đối thoại: Gặp Chúa để trò chuyện để khen ngợi, cám ơn, xin lỗi, xin giúp đỡ và nhất là để chia sẻ tâm tư. Nhờ vậy giáo lý viên được biến đổi từ trong tâm tình đến mọi cung cách sống để trở nên giống Chúa. Đây là mục đích của các giờ cầu nguyện và suy ngắm.

·     Nên một với Chúa: Trong một ngày sống, giáo lý viên cần tìm những giây phút thinh lặng để cảm nghiệm sâu sa sự hiện diện của Chúa, để nghe Chúa nói và để nói với Chúa. Được như thế, giáo lý viên sẽ luôn sống trong tình hiệp thông với Chúa và trở nên một với Ngài.

Các Thánh và các nhà tu đức đã cho chúng ta một số kinh nghiệm về cầu nguyện như sau:

-      Cầu nguyện là nhịp thở (Thánh Âu Tinh).

-      Cầu nguyện là hướng lòng lên với Chúa (Thánh Gioan Đamaxênô).

-      Cầu nguyện là trao đổi tình yêu, là nói chuyện với Chúa mà chúng ta biết là Ngài đang yêu chúng ta (Thánh Têrêsa Avila).

-      Cầu nguyện là đơn sơ nhìn lên trời, là tiếng kêu của lòng tri ân (Thánh Têrêsa Hài Đồng).

-      Cầu nguyện là lắng nghe (Hồng y Suenens).

-      Cầu nguyện là tín thác, là cởi mở, là trao trọn, là chia sẻ, là trải lòng mình trước ánh sáng mặt trời của Chúa (Vua Baudouin).

-      Có những lời cầu nguyện bằng nước mắt, bằng thinh lặng, bằng chiêm ngưỡng. Cầu nguyện là chu toàn bổn phận, là giúp đỡ người đau khổ, là mỉm cười với kẻ làm chúng ta đau buồn (G. Castelot)

Như vậy, ngoài những giờ phút dành riêng cho giờ kinh nguyện mỗi ngày, giáo lý viên có thể cầu nguyện bất cứ lúc nào. Buổi sáng thức dậy, ta có thể chúc tụng Chúa với tia nắng của mặt trời, với tiếng chim líu lo, với làn gió mát... Trong ngày, cho dù quá bận rộn, ta cũng có thể dâng những bận rộn ấy lên Chúa. Thí dụ khi làm việc, khi đi đường, khi học tập, khi vui chơi, gặp gỡ... ta có thể biến những cơ hội này thành những lời kinh liên lỉ... và xin Chúa chúc lành cho tất cả những công việc đó. Chiều về, ta hướng lòng lên Chúa qua những thành công, thất bại, những niềm vui nỗi buồn của một ngày đã qua và múc lấy nguồn ân sủng từ những giây phút trầm lặng bên Chúa trước khi kết thúc một ngày.

Muốn gắn bó với Chúa và muốn lớn lên trong kinh nguyện, chúng ta đừng chờ tới giờ mới cầu nguyện hay chờ tới lúc có nhu cầu xin điều gì mới nhớ đến Chúa. Cầu nguyện là tiếng nói của tâm tư, nên không phải chỉ những lúc vui vẻ hạnh phúc ta mới cầu nguyện, nhưng cả những lúc đau buồn, bất lực và thất vọng. Như thế, cầu nguyện không phải chỉ đóng khung trong các kinh quen đọc, mà còn cả những tâm tình bộc phát của cá nhân. Cầu nguyện thật là đắm mình trong sự hiện diện với Chúa. Sống được như thế, giáo lý viên sẽ triển nở trong đời sống thiêng liêng và sẽ chuyển thông được cho người khác một cách tự nhiên những kinh nghiệm về Tình Yêu Chúa.

3. VÂNG THEO Ý CHÚA 

Nhìn vào đời sống Giáo hội, mỗi vị thánh có một bộ mặt riêng, không ai giống ai; mỗi tín hữu có một cách sống đặc biệt, không ai có thể sống đời sống của người khác. Nhưng trong muôn vàn cái khác biệt ấy, có một con đường chung cho tất cả, đó là nên giống Chúa Giêsu bằng việc tuân giữ các điều Chúa truyền dạy (Jn 15, 10). Điều này có nghĩa là sống tốt giây phút hiện tại, là tận dụng cách khôn ngoan thời giờ Chúa ban, là làm đầy đủ bổn phận trong tinh thần trách nhiệm.

Dụ ngôn trong Tin mừng Matthêu 21, 28-30, kể người cha sai hai người con đi làm vườn nho, chúng ta nghĩ gì khi thấy Người anh trả lời: “Con không muốn đi” nhưng sau đó hối hận và đi. Còn người em đáp ngay: “Vâng con sẽ đi” nhưng rồi lại không đi? Có lẽ cuộc đời chúng ta nhiều khi cũng khởi sự bằng tiếng vâng rồi sau lại không làm, hoặc khởi sự bằng tiếng không, rồi sau đó tiếng vâng của đức tin mới thốt ra.

Dụ ngôn trên cho chúng ta một bài học về thái độ vâng theo tiếng Chúa. Thái độ này có thể làm tăng hay giảm giá trị của công việc. Dù chúng ta có làm một công việc lớn lao, nhưng làm vì miễn cưỡng, làm cho qua lệ, thì công việc ấy không có giá trị bao nhiêu. Nhưng trong mọi việc, chúng ta làm với tinh thần vui vẻ, hăng hái, làm vì lòng mến Chúa thì việc đó sẽ trở nên nhẹ nhàng và có giá trị lớn lao, dù việc đó rất tầm thường và nhỏ bé.

Khi đọc dụ ngôn này, có người trong chúng ta sẽ thấy rằng mình không thích thái độ của cả hai người con trên, mình muốn là người con thứ ba, nghĩa là người biết trả lời vâng với cha mình, và mau mắn đứng dậy, vui vẻ thi hành điều đã hứa với cha. Điều đó rất đúng và đây chính là người con gương mẫu, là người con mà tất cả chúng ta mong muốn trở nên như vậy. Là giáo lý viên, chúng ta ý thức hơn về tinh thần sẵn sàng tự nguyện và thái độ dứt khoát làm điều hợp ý Chúa.

Trong cuộc sống, chúng ta có rất nhiều mối bận tâm, nhiều lo lắng về cả tinh thần lẫn vật chất. Nhưng mối bận tâm đầu tiên luôn thúc bách tâm hồn người giáo lý viên phải là mối bận tâm tìm kiếm điều gì hợp với ý Thiên Chúa. Những bận rộn của đời sống thường ngày dễ lôi kéo chúng ta nghe theo tiếng nói của tư lợi, của danh vọng, của ảo tưởng và cả tiếng nói của thần dữ. Chúng luôn tìm cách đánh lừa để lái chúng ta đi theo đường khác. Nhưng với thái độ tin yêu phó thác vào Chúa, giáo lý viên luôn thức tỉnh lắng nghe tiếng nói của Chúa và sẵn sàng thực thi.

Tóm lại, người sống tình con thảo với Thiên Chúa là người sống trong tâm tình tôn kính, yêu mến và nghe lời Thiên Chúa. Họ là người chấp nhận để Chúa Thánh Thần nắn đúc hình hài Đức Kitô trong mình, và một khi có Chúa Kitô trong mình [2], họ hăng say đem Chúa Kitô đến cho người khác. Họ là người gắn bó với Đức Kitô là Đầu và cũng gắn bó với mọi người là những chi thể của Đầu.



MỤC LỤC

[1] Đức Cha Giuse Đinh Đức Đạo trong bài chia sẻ về cầu nguyện với các nữ tu

[2] Xem Gal 2,20; Phil 1,21