những vần thơ


XVI.

  NHỮNG

VẦN THƠ

 

 

 

 

 

 

 

 

Lương tâm tinh sạch mọi đàng

Lương tâm tinh sạch mọi đàng,

Lòng càng thanh tịnh trí càng tinh anh.

Việc làm thảy phải ngay lành,

Tĩnh tâm khắc kỷ, ngôn hành hẳn hoi.

Tình thân với Chúa đừng nguôi,

Yêu mình cũng phải yêu người như ta. (I, 251)

TINH THẦN VUI VẺ THẬT THÀ

Đơn sơ vui vẻ thật thà,

dễ răn dễ bảo hiền hòa an vui,

Hay chịu khó hay thương người,

Dễ ăn dễ ở, tươi cười nết na,

Chẳng hay giả dối nịnh tà,

Nói phô ngay thẳng xuyên hoa chẳng hề. (I, 208)

SINH VÔ NHỤC, TỬ VÔ ƯU

Sống lành Chúa mến người yêu,

Chết rồi lại đặng nhiều đều thơm danh;

Nhiều gương xưa tỏ rành rành,

Đời nay còn có người lành treo gương;

Muốn cho Chúa chuộng người thương,

Hãy chăm thờ Chúa, đạo thường bả tâm;

Với cha mẹ vẹn tình thâm,

Lòng ghi chữ hiếu, tay cầm chữ trung;

Với anh em dạ phục tùng.

Với người thiên hạ lòng cùng chung yêu;

Phận mình trăm nết đừng xiêu,

Cách ăn thói ở mỗi điều mỗi hay;

Sống như vầy khá vui thay,

Chết rồi lại đặng muôn ngày hỉ hoan. (II, 296)

*  *  *

MUỐN LÊN CÕI THỌ

Muốn lên cõi thọ hưởng vinh ba,

Năm tháng ngày giờ chớ bỏ qua,

Dốc chí noi theo đàng chính trực,

Quyết lòng xa lánh việc gian tà.  (II, 314)

NHỰT NHỰT TÂN, HỰU NHẬT TÂN

Hỉ hoan cõi thế mấy hồi,

Hãy trông cõi thọ đời đời hỉ hoan;

Cuộc đời chóng xế mau tàn,

Sống rày tạm gởi, thác hoàn bụi tro.

Như vầy mà những âu lo,

Lo cho phần xác ấm no mọi bề;

Phần hồn thì để lê mê,

Năm nào năm nấy chẳng hề sá chi.

Vậy nay năm mới đến kỳ,

Hãy thôi thói cũ mà qui nẻo lành.  (II, 319)

 

 

DÂNG MẸ

Thành tâm thờ Mẹ Chúa Trời,

Sống đà khỏi sợ, chết thì hỉ hoan ;

Lâm cơn khổ hãi gian nan,

Có Người bàu chữa, ủi an dắt dìu ;

Vậy khuyên con hãy mến yêu,

Cùng làm tôi Mẹ chớ liều bỏ lơ. (II,  353)

NĂM CÙNG THÁNG HẾT

Năm cùng tháng hết, hết phương lo,

Người hỡi, hãy nghe tiếng dặn dò :

Giây phút mau qua đừng lấp lửng,

Thì giờ vắn vỏi phải năng đo. (II. 358)

            SỐNG THANH TỊNH

“Sống thanh tịnh, ngã ít khi.

Ngã mau chỗi dậy; bước đi vững vàng;

Ơn nhuần ; nghỉ lặng ; chết an ;

Luyện càng mau sạch; thưởng càng lớn lao.”

                                                            (II, 396)

LUẬT TU

Tu thân mà chẳng tu thần,

Tu thần chưa trọn, tu thân sao tròn. (II, 404)

 

 

NĂM MỚI – ĐỜI SỐNG MỚI

Sống rày vị quyết sang năm,

Kíp tua lánh tội, phải chăm làm lành :

Ở đời nhứt đán phù sanh,

Rày còn mai mất, đành rành xưa nay ;

Vậy thì kíp liệu năm nầy,

Dường năm sau hết, chớ chầy kẻo nguy. (II, 445)

NĂM CŨ ĐÃ QUA

Cuộc đời tợ giấc chiêm bao,

Cũ qua mới lại khác nào thoi đưa.

Ngầm ngùi nhớ lại việc xưa,

Thảy đều qua hết chẳng lưa chút gì.

Sướng vui cực khổ qua đi,

Song le phước tội còn ghi đành rành. (II, 478)

HỌC VIẾT VĂN

I.               

 

Người Nam phải thạo tiếng Nam,

Nói phô mới khéo, văn làm mới hay ;

Văn bài sách vở xưa nay,

Nhiều ông cũng giỏi, nhiều thầy cũng thông ;

Năng xem quyết học chí công,

Học cho thạo tiếng mới trông làm bài. (III, 491)

HỌC NHI THỜI TẬP CHI

Sách đã có chữ Học nhi,

Khuyên người đi học hãy ghi vào lòng,

Học hành chữ nghĩa cho thông,

Nếu không tập luyện nào trông ích gì ?

Tập tành đức hạnh lễ nghi,

Tập làm sách vở văn thi dạy đời. (II, 485)

TÌNH HUYNH ĐỆ

I.

Muốn cho gia tộc đề huề,

Anh em cật ruột chớ hề nghịch nhau.

Người ra trước, kẻ sinh sau,

Như hoa một bụi, như cau một buồng.

Vậy thì phải mến nhau luôn,

Đồng ăn đồng chịu, chung buồn chung vui. 

(II. 487)

II.

Quí thay huynh đệ chi tình,

Anh em chẳng thuận, gia đình sao yên ?

Tranh nhau chi chút bạc tiền,

Mà sinh bạc ngãi động phiền mẹ cha.

Muốn cho giữ trọn chữ Hòa,

Hãy cầm chữ Nhẫn, đến già đừng buông. (II, 488)

THẢO HIẾU

I.               

 

Con vô phúc cực lòng ai ?

Cực lòng cha mẹ cả hai đã đành :

Phận con cũng phải ô danh,

Rằng con bội ngãi, rằng anh bạc tình.

Ơn cha mẹ, mình đã khinh,

Qua đến vận mình sẽ thấy chẳng sai. (II, 492)

II.

Công ơn cha mẹ hải hà,

Đấu lường bé hẹp âu là khôn đong.

Mến yêu phụng dưỡng thành công,

Đền còn chưa xứng tấm lòng mẹ cha.

Huống là hất hưởng nhuốc nha,

Ngày sau sẽ thấy oan gia tỏ tường. (II, 494)

QUÂN TỬ THÁI NHI BẤT KIÊU

Người quân tử giữ lễ nghi,

Mến yêu kẻ nhỏ, kính vì người trên.

Chữ nhơn chữ lễ làm nền;

Câu khiêm tiếp vật chẳng quên khi nào.

Cho dầu chức trọng tài cao,

Một lòng khiêm kính tơ hào chẳng sai. (II, 496)

 

VĂN CHẤT

Làm người có Chất có Văn,

Mới nên quân tử, mới rằng Văn minh.

Bề ngoài có vẻ oai vinh,

Bề trong phải có tâm tình hẳn hiên.

Mới là khí tượng nhơn hiền,

Đáng cho thiên hạ lưu truyền sử xanh. (II, 498)

SỐNG NHÂN - NGHĨA

Muốn đừng ác báo ác lai,

Chữ nhơn chữ lễ nhớ hoài đừng quên.

Nhơn là gốc, lễ là nền.

Bất nhơn thất lễ há nên thân người.

Ở đời muốn thỏa với đời,

Nhơn thời yêu chúng, lễ thời kính nhau.

Cả hai giữ trọn làu làu,

Đẹp mày nở mặt, tốt màu như hoa. (II, 505)

HỌC VIẾT THƠ TỪ

Thơ từ cho kẻ bề trên,

Đơn sơ chất phát, chẳng nên hoa hòe ;

Đừng pha giễu chớ nói khoe,

Mấy lời chúc kính phải dè lễ nghi ;

Tôn xưng xứng bậc xứng vì,

Từ đầu đến cuối đều thì hẳn hiên. (III. 510)

GẪM SỰ ĐỜI

Chi bằng khắc kỷ tu thân,

Lập thân hành đạo, lo phần thiêng liêng.

Ở đời bớt nhọc, bớt phiền,

Đời sau lại đặng nghỉ yên muôn đời. (II, 525)

PHẬN VỤ CHA MẸ

Lời lành tiếng dữ để đời,

Phận làm cha mẹ ắt thời phải lo :

Lo cho con cái ấm no,

Lại còn một nỗi phải cho học hành.

Muốn cho con cái tác thành,

Phải lo săn sóc tập tành dạy văn.

Ấy là chính lẽ đạo hằng,

Hãy lo nắm giữ đằng thằng chớ quên. (III, 533)

DẠY CON

Vẽ vời từ thuở ấu thơ,

Chớ khá đợi chờ đến tuổi lớn khôn.

Uốn cây uốn thuở còn non,

Dạy con dạy thuở con còn trên tay.

Càng dạy sớm, lại càng hay,

Càng chờ khôn lớn càng gay học hành. (III, 534)

 

 

HỌC HÀNH

Danh thơm vạn đời còn thơm,

Muốn thơm danh phận hãy chăm học hành,

Học hành mình sướng đã đành,

Lại thêm thiên hạ bia danh để đời,

Trẻ em ghi lấy bấy lời,

Hãy siêng học tập, chớ lơi thì giờ. (III, 538)

NHỨT NHỰT VI SƯ

Chữ rằng: Nhứt nhựt vi sư,

Làm thầy một buổi cũng như ngàn ngày :

Mến yêu, công kính, thảo ngay,

Với bà như mẹ, với thầy như cha.

Dẫu thầy quở phạt mắng la,

Cũng đành cam chịu mới là nên thân. (III, 548)

TU ĐẠO

Phải tu đạo mới tu văn,

Hữu văn vô đạo, há rằng văn minh?

Dẫu thông vạn sử thiên kinh,

Mà không biết đạo, nào sinh ích gì?

Đạo là cốt cách lễ nghi,

Không đi theo đạo, ắt đi lạc đàng. (III, 549 - 550)

 

 

CHỮ LỄ, CHỮ NGHI, CHỮ TIẾT, CHỮ ĐỘ

Lịch sự trong đời muốn sửa sang,

Lễ, Nghi, Tiết, Độ phải đàng hoàng :

Lễ bày phép tắc cho cung kính,

Nghi đình qui mô mới chững chàng ;

Tiết chế lớp lang vừa cách kiểu ;

Độ phân chừng mực xứng đoan trang :

Bốn đều tua giữ noi từng chữ,

Lịch sự gọn gàng lại vẻ vang. (III, 202)

CHỮ VĂN, CHỮ CHẤT, CHỮ TÌNH, CHỮ TỤC

Tiết, Độ, Lễ Nghi, vốn phải chuyên,

Chất, Văn, Tình, Tục, cũng cần quyền :

Chất làm cốt cách cho thành sự ;

Văn vẽ hình dong mới có duyên;

Tình thật lòng ngay hằng quyết giữ ;

Tục lành thói tốt cứ như truyền,

Ấy thêm bốn chữ đừng sai suyển,

Tiết, Độ, Lễ Nghi mới vẹn tuyền. (III, 204)

LỄ PHÉP

   Làm người muốn ở xứng nhơn dung,

   Lịch Sự Lễ Nghi ắt phải dùng ;

   Tam đức, tam cang nghi bất biệt,

   Ngũ luân, ngũ phước lễ tương tùng ;

   Ngãi Nhơn, phi lễ hà vi pháp ?

   Dỏng Trí, thắc nghi hệ thị hưng.

   Vậy hãy cần chuyên câu Thủ lễ,

   Bằng không, ắt chẳng xứng anh hùng.

(III, 206)

GIỮ LỄ VỚI MÌNH

I.     

 

   Làm người phải ở xứng con người,

   Chữ  Lễ trau mình há dể ngươi ;

   Đầu mặt chơn tay lo chỉnh đốn,

   Hình dong bộ mạo phải tươi mươi ;

   Nghiêm trang đi đứng cho vừa bước,

   Sủ nhỉn nói phô chớ rộn cười ;

   Tóm tắt một lời đà nói trước :

   Làm người phải ở xứng con người.(III, 209)

II.

   Bậc làm người hơn loài cầm thú,

   Thuở đầu thai Chúa phú hồn thiêng.

   Vậy thì phải ở xứng duyên,

   Xứng tài minh đức, xứng quyền nhơn linh.

   Dẫu một mình đừng khinh chữ Lễ :

   Sửa châu thân phải thế chững chàng,

   Nằm, ngồi, đi, đứng nghiêm trang,

   Lời ăn tiếng nói dịu dàng khoan thai.

   Đừng gióc vai làm đài làm các,

   Chớ giềng giàng, xớn xác trùng triềng,

   Chi bằng đằm thắm tự nhiên,

   Ấy là Lịch sự xứng duyên con người.

(III, 220)

GIỮ LỄ VỚI CÁC ĐẤNG SINH THÀNH

Làm người ở thế có thân sinh,

Hai chữ hiếu trung kíp dặn mình :

Dạy bảo kêu đòi tua ứng đáp,

Ra đi về lại phải thưa trình ;

Sinh tồn dưỡng dục đừng phiền dạ,

Tử vãng tang ai khá tận tình ;

Cha mẹ, ông bà hằng kính trọng,

Thân nhơn nội ngoại mựa hề khinh. (III, 236)

GIỮ LỄ VỚI ANH CHỊ EM

Ở đời nghi thất có nghi gia.

Hiếu đễ trọn hai mới đẹp nhà :

Đời chị đời  anh tua ái kỉnh

Phận em phận út phải hiền hòa.

Nói phô sai khiến đừng lây lất ;

Thưa thốt dạ vâng cũng thiết tha.

Huynh hữu đệ cung là chính lễ

Hằng lo giữ vẹn, chớ sai ngoa. (III, 242)

 


 

 

GIỮ LỄ VỚI THẦY DẠY

Lễ văn hai chữ chẳng rời nhau,

Có lễ chế văn mới đượm màu ;

Học pháp, tu thân làm chính bổn,

Tường qui, giái tánh ấy là đầu.

Sùng sư, trọng đạo thơ còn để,

Tiên lễ hậu văn dạ đã làu.

Vậy phải kính thầy cho trọn đạo,

Trọng đạo với thầy trước và sau. (III, 245)

GIỮ LỄ VỚI NGƯỜI TRÊN

Ở đời Thiên định có tôn ti,

Lớn bé trẻ già hạp lễ nghi ;

Bé phải kính yêu người trưởng lão,

Lớn thời thương mến trẻ thơ nhi ;

Già tuy lú lẫn đừng chê nhạo,

Lớn dẫu nghèo hèn chớ dám khi ;

Vậy phải tùy nghi mà thủ lễ ;

Dạ, vâng, thưa, lạy, chớ nài chi. (III,  248)

GIỮ LỄ VỚI BẰNG HỮU

Trong đời ngọc báu dễ ai hay,

Bằng hữu chi giao cũng hiếm rày :

Hễ gặp bạn lành đừng tới vội,

Rủi lâm nghĩa quấy kíp lui ngay.

Bạn lành chỉ tín không dời đổi,

Nghĩa quấy bôi ba dễ biến thay.

Bằng hữu bấy lời về lễ nghĩa,

Khuyên người nắm giữ mựa hề sai. (III, 253)

GIỮ LỄ VỚI NGƯỜI  LÀM ƠN CHO MÌNH

Ở đời ai khỏi mắc ơn ai,

Lễ biết ân tình mới thảo ngay.

Cấp dưởng mở mang cơn túng ngặt ;

Cử bầu dắc díu lúc thành tài.

Ơn không cầu báo, ơn dày dặn ;

Nghĩa ắt lo đền, nghĩa dẻo dai.

Thăm viếng giúp giùm hề dám trễ,

Mến tình cám đức dạ đừng phai. (III, 263)

“NHỰT TÂN”
HẰNG NGÀY HẰNG LO NÊN MỚI

Trăng thay, kiểng đổi, năm dời,

Ba khai đăng xán rạng ngời trời Nam.

Thích tình dạ gẫm âm thầm,

“Nhựt tân” chín chữ thâm trầm cao xa.

Trần gian lắm nỗi thói ta,

Người sinh giữa thế dễ mà nhuốm lây.

Trăng thanh lắm lúc vì mây,

Mây giăng nên nỗi trăng xây mặt sầu.

Ngọc lành chẳng có công trau,

Chẳng nên sáng láng lại mau phải tì.

Lòng người sáng nữa lưu ly ;

Phong tình vừa thổi tức thì tối tăm.[1]

Làm người ắt phải lưu tâm,

Ngày ngày cẩn thận lo chăm rửa lòng.

Sắc tài tẩy sạch cho xong ;

Tính hư nết dữ ra công tảo trừ.

Hễ là mình nhớp áo nhơ,

Tức thì rửa giặt chẳng chờ một mai.

Lòng đầy những giống tanh hôi,

Ngày qua tháng lụn lần hồi chẳng toan.

Có thân thì phải tu thân ;

Thôi thôi! Cải quá tự tân cho rồi.

Mới người, mới việc, mới lời,

Bỏ xưa bỏ cũ, sửa ngoài sửa trong.

Nhắc câu ngạn ngữ thường dùng,

Ngâm nga để nhớ, ghi lòng cho vui :

“Hai ta như áo mới may,

Như chuông mới đúc, như dây mới chuyền.”

Cũng là dạy bảo chớ quên,

“Bàn minh” bấy chữ cần quyền tạc ghi[2].

(III,  345 - 346)

 

 

VÀNG NGỌC DỄ TÌM, DANH NHƠ KHÓ CHUỘC

Thanh danh là của trọng thay !

Thật là vô giá, trên đời chi qua.

Dẫu không sắc, hay chói lòa ;

Ngàn năm truyền để sơn hà quang huy.

Thanh danh là của không hơi ;

Trời Nghiêu đất Thuấn nực mùi thơm tho.

Bạc vàng giàu có muôn kho,

Sóng xao bọt nước, một giờ phù sanh.

Rỡ ràng một áng phương danh,

Ngàn xưa vặc vặc tinh anh chẳng dời.

Vô tình chi bấy hỡi người !

Hai trường danh lợi đua bơi lẽ nào ?

Tưởng rằng danh tại tước cao ;

Đua chen lợi lộc tiêu hao tâm thần.

Danh là vẹn chữ “Lý, Luân” ;

Toàn câu “Tam, Ngũ” gan vàng chớ phai.

Thì lòng chớ nhuốm sắc tài ;

Chung thân phước lạc, muôn đời vinh ba. (III, 349)

LƯỠI KHÔNG XƯƠNG NHIỀU ĐƯỜNG LẮT LÉO

Lưỡi không xương, nhiều đường lắt léo,

Khen ngạn đời đã khéo ngâm nga ;

Gẫm coi quanh khắp sơn hà,

Không chi lắt léo cho qua miệng người ;

Khoanh mình giấu ẩn một nơi,

Giết người có thuở, bán trời ghe phen ;

Dầu chua ngọt, mặc trắng đen,

Ngược xuôi tự tại, chê khen cũng mình ;

Nhớ lời Tuần Tử đinh ninh,

Gươm chém dễ lành, lưỡi cắt khó tiêu ;[3]

Khuyên người nghe luận mấy đều,

Kíp lo sửa lưỡi chớ liều uổng oan.

Nhớ câu Bế khẩu thâm tàng[4]

Mình đà khỏi rối người càng được yên.

(III, 363)

ĂN TRÁI NHỚ KẺ TRỒNG CÂY

Ăn trái nhớ kẻ trồng cây :

Ơn kia đã hưởng dạ nầy khá quên ?

Mắc ơn thế tất phải đền,

Đền ơn cho xứng mới bền công ơn ;

Ngạn rằng: Ơn nghĩa mắc hơn

Hơn trăm của bán, hơn ngàn của mua.

Hưởng lộc nước nhớ ơn vua ;

Làm người hữu trí chớ thua thú cầm.

Ơn cha nghĩa mẹ thâm trầm,

Một ngày chịu lấy muôn năm nhớ hoài,

Ơn trên trời dựng, đất khai,

Càng lo báo đáp chớ phai tấc lòng ;

Trời cao đất rộng minh mông,

Cá nuôi dưới nước, cây trồng trên non.

Ấy là của Chúa cho con,

Lo đền ơn Chúa chớ còn vong ơn. (III, 366)

NGƯỜI ĐỜI

Người đời khác thể là hoa,

Sớm mai mới nở, chiều ra lại tàn ;

     Người tan sự thế cũng tan,

Tan mâm phú quí, tan bàn vinh ba.

     Vinh ba cũng tợ bông hoa,

Rày còn mai rụng, chóng qua mau rồi.

      Khuyên người cất lấy mấy lời,

Nhớ mình ở thế nhứt thời phù vân :

     Chăm lo khắc kỷ tu thân,

Hầu khi thác đoạn đặng thăng cõi trời,

        Vinh ba thật, ấy là nơi,

Hãy tìm về đó muốn đời hỉ hoan. (III, 37)

         TrẺ mà chẲng hỌc già thì làm sao?

Dạy con dạy thuở nên ba;

Ấy lời tục ngữ ngâm nga thường ngày.

Tre non dễ uốn chớ nài,

Lòng trau lúc bé, trí mài thuở xuân.

Bé thơ học tập ôn nhuần,

Đến khi khôn lớn dễ thuần mau quen.

Chờ rằng: tuổi bé sức hèn,

Đến sau khôn lớn ắt bèn sẽ hay.

Trí khôn vừa mới trổ bày,

Không lo mài giũa, có ngày sẽ đui.

Ngày giờ chóng tới khôn lui,

Lòng gan đã cứng khó xui cho mền.

Bấy lời răn bảo trẻ em,

Tạc ghi vào trí thích đem vào lòng.

Sớm lo sách mở đèn chong,

Học nghề tu nghiệp để hòng hộ thân. (III, 400)

 

 

NẾU KHÔNG DẠY VẼ TÁNH LIỀN RỜI XA

Tình người ví tợ sáp ong,

Uốn ngay cũng chịu bắt cong cũng đành.

Nếu không giáo hóa tập tành,

Chẳng quen nết tốt lại thành thói hư.

Đời nay gương xấu cũng dư,

Mẫu lành có ít, tình tư thì nhiều.

Không ai dạy vẽ dắt dìu,

Dễ quên nẻo chính, chóng xiêu đàng tà.

Chữ rằng: Như trác, như ma :

Không giồi không luyện đâu mà nên thân.

Vậy khuyên ai nấy ân cần,

Học hành dạy dỗ trọn phần cả hai. (III, 404)

KHÔNG THẦY ĐỐ MÀY LÀM NÊN

Sinh con vốn phải dạy con,

Dạy con nên nghiệp hãy còn đầu sư.

Bạc tiền dụng đủ ăn dư,

Nuôi thầy con học, con nhờ lâu năm.

Tuy dầu tiền vạn vàng trăm,

Không bằng nhứt nghệ chét găm vào mình.

Chữ rằng: Kim ngọc mản đinh,

Bất như giáo tử nhứt kinh để đời.

Rước thầy dạy dỗ vẽ vời,

Hoặc cho con học ở nơi có trường.

Học đức hạnh, học văn chương,

Tập nghề luyện nghiệp biết đường hộ thân.

Ấy là việc phải ân cần,

Một phen lo trọn muôn lần khỏi lo. (III, 405)

SÙNG SƯ TRỌNG ĐẠO:
KÍNH THẦY CHUỘNG ĐẠO MỚI NÊN THÂN

Vài lời diễn đạo thầy trò,

Khuyên trò ghi dạ giữ cho hết lòng.

Ơn thầy tợ biển dường sông,

Lời so khôn xiết đấu đong không rồi.

Nhờ cha mẹ việc dưỡng nuôi,

Nhờ thầy dạy dỗ mới xuôi sự đời.

Đàng văn minh bước tới nơi,

Nhờ thầy dìu dắt vẽ vời nước đi.

Làm quan lớn, đổ khoa thi,

Gặp phương sinh lý, biết suy đạo tình.

Ấy vì thầy đã tập tành,

Mới nên cơ nghiệp mới thành thể thân.

Vậy lo cố ngãi tri ân,

Mến yêu hết dạ, kính vâng hết lòng.

(III, 407)

HỌC HÀNH PHẢI ĐẾN CHÍNH NƠI TRỌN LÀNH

            Chim kia lăng líu trên non,

            Đi ăn có chỗ đậu còn có nơi ;

            Loài người trí huệ vượt đời,

            Sống rày hay sống chết thời làm sao ?

            Chỉ ư chí thiện đâu nào ?

            Âm vỏng nan đào miệng đọc đừng quên.

            Có chí thiện, mới chỉ thiên,

            Chữ thiên chữ thiện đánh liên một vần ;

            Vần cho tới mới an thân,

            Tới đàng đạo chính ân cần vâng noi.

            Noi theo đó ngó về trời,

            Ấy là chí thiện như lời sách ghi,

            Người Đại học, học phải suy,

            Suy rồi phải giữ, giữ đi đến cùng. (III, 414)

 

 

 

 

TIÊN HỌC LỄ, HẬU HỌC VĂN:
TRƯỚC KHI HỌC CHỮ PHẢI DẰN LỄ NGHI

Tiên học lễ, hậu học văn,

Ấy lời tục ngữ thường năng nói hoài.

Vậy lo giữ vẹn đừng sai,

Ân cần chăm chút giồi mài lễ nghi :

Cách ăn nết ở nhu mì,

Nói phô nghiêm chỉnh đứng đi tề nhường ;

Đi đâu cũng giữ phép trường,

Ở nhà chẳng bỏ ra đường đừng lơi.

Dầu khi học dẫu khi chơi,

Cũng hằng giữ lễ chớ rời phút giây.

Thành tâm thủ lễ với thầy,

Ban khen để dạ, quở rầy an tâm.

Nhớ lời: Đồng ước tình thâm,

Ở cùng bạn học cho nhằm lễ nghi.

Chớ hề: thằng, hắn, tao, mi,

Phải yêu kẻ nhỏ, kính vì đờn anh.

Lễ nghi chuyên luyện tập tành,

Mới nên quân tử mới thành văn nhơn.

(III, 418)

 

Mọi người bất luận là ai,

Câu Tiên học lễ chơ quên một lời.

Xuất thân ra ở với đời,

Không lo thủ lễ là người mọi ri

Chữ rằng : Đồng ước tương qui,

Bấy lời hữu ích xin ghi vào lòng. (III, 539)

HỌC HÀNH DẠY DỖ PHẢI SIÊNG MỚI THÀNH

Học hành mà muốn nên thân,

            Thầy trò đều phải ân cần cả hai ;

Dẫu thầy dạy giỏi vẽ tài,

Mà trò cứ nhác, thì thầy cũng nao.

Trò siêng học hết công lao,

Mà thầy biếng trễ cũng nào được chi.

Bấy lời sư đệ hãy suy,

Cần vô giá bữu sách ghi đành rành.

Vậy thầy phải cứ xứng danh,

Chuyên cần dạy vẽ mới thành nghiêm sư.

Phận trò cũng phải tư tư,

Tài thua phải gắng lực dư phải dùng.

Đừng liều làm biếng mất công,

Phải siêng học tập mới thông thành nghề.

Nhờ ơn cha mẹ đủ bề,

Chuyên tu cần học chưa huề xứng ơn.

Huống là trễ nải nhàm lờn,

Bạc tinh khó gỡ, tiền nhơn khốn đền. (III, 419)

HỌC DẦU CHẲNG ĐẶNG PHẢI GẮNG ĐỪNG THÔI

Thiên tư sáng tối mặc dầu,

Phải sao chịu vậy khá hầu trách ai ?

Chỉnh lo tùng lực tùy tài,

Học cho bền chí chớ nài công lao.

Mặc ai hiểu lẹ học mau,

Rủi mình trí chậm, cứ sau mà lần.

Miễn lo trì chí ân cần,

Một phen chưa đặng, mười lần sẽ nên.

Nhớ câu: Thủy trích thách xuyên,

Nước xoi mòn đá, sắt luyền thành kim.

Nông thương chẳng lựa nắng im,

Bất câu dễ khó, chẳng hiềm nắng mưa.

Vậy người kẻ sĩ chớ thua,

Lâu mau đừng ngại, ngọt chua chớ sờn.

Bền lòng vũng chí là hơn,

Bán đồ nhi phế, thế gian chê cười. (III, 421)

HỌC HÀNH MUỐN TẤN TỚI HỎI ĐÀN EM

Học hành chớ thẹn hỏi han,

Năng hỏi năng bàn sẽ chóng nên thông.

Nhơn gian tài trí chẳng đồng,

Người hơn kẻ kém thật không lạ gì ;

Hơn bàn, kém hỏi, đừng nghi,

Bất câu lớn nhỏ, chẳng kỳ dưới trên.

Hỏi bàn là việc đáng khen,

Lớn bàn với nhỏ có hèn chi đâu ;

Mình tuy học trước ở lâu,

Có người tài trí sắc sâu hơn mình.

Vậy mình hỏi há ai khinh?

Sỉ câu Hạ vấn làm thinh dốt hoài ;

Chi bằng khiêm nhượng là hay,

Không ai chê dại, lại may cho mình. (III, 425)

         NẺO HỌC HÀNH

Lớn khôn học phải biết suy,

            Đạo tình phải xét, đức ngùy phải chăm ;

Ngâm thơ đừng giống mọi trăm,

Nghĩa cao không xét, ý thâm chẳng dò ;

Như vầy chẳng xứng học trò,

Học trò vốn phải chăm lo học hành ;

Học trò chủ ý học lành,

Khắc minh tuấn đức đành rành gương treo ;

Chữ thì học, nghĩa không theo,

Đã không minh đức, lại gieo họa đời ;

Họa đời tạm đã khó chơi,

Huống họa đời đời thoát lậu nào qua ;

Nôm na ít vế gọi là,

Khuyên hằng noi giữ kẻo mà luống công. (III, 428)

 

 

ÔN CỐ TRI TÂN

Nẻo văn minh tợ lầu cao,

Phải qua cấp dưới mới vào từng trên ;

Học sau quên trước sao nên,

Trước trèo chẳng vững sau lên gặp ghềnh ;

Vậy thì trong việc học hành,

Phải lo ôn cố sau đành tri tân.

Nghe qua khó nhớ mọi phần,

Phải lo biên ký học lần về sau.

Lời thầy quí tợ trân châu,

Phải lo lượm lấy mỗi câu từng đều ;

Chớ nghe qua bỏ thả liều,

Bài mai chưa thạo bài chiều khó thông.

Chi bằng trò hãy gắng công,

Giữ câu ôn cố để hòng tri tân ;

Như vầy mới học nên thân,

Mới thông kinh sử, mới tầng cổ kim. (III, 430)

HỌC THỜI PHẢI XÉT PHẢI SUY PHẢI BÀN

Dặn mình thử ý chơn truyền,

Lẽ ngay phải phục, ý riêng phải dè.

Văn bài miệng đọc tai nghe,

Đọc thời lo hiểu chớ hề bỏ qua ;

Xét lui suy tới gần xa,

Sánh so sự lý khử tà tùng chơn.

Biết câu tính thiệt so hơn,

Đa văn quyết đãi hiền nhơn di lời.

Khuyên trò giữ vẹn đừng lơi,

Tập bèn chóng được, học thời mau thông. (III, 432)

     10 BÀI  NGƯỜI KHÔN NGOAN BIẾT MÌNH

I.               

 

            Khuyên người hãy biết lấy mình,

Triết nhơn tri kỷ sử kinh dặn lời ;

       Lảu thông mọi việc trong đời,

Phận mình không biết ắt thời luống công ;

Luống công ấy sự đã xong,

Lại thêm mắc lỗi bởi không biết mình ;

Biết mình mới thật văn minh,

Mới nên quân tử mới thành trượng phu. (III, 449)

II.             

 

Nhơn vi vạn vật chi linh :

Ấy phải biết mình có tính linh thiêng ;

     Linh thiêng ấy của người riêng,

Mỗi người có một mới nên con người.

Cang tam thường ngũ an nơi,

Nhơn luân biết giữ cuộc đời biết lo.

Đều hơn thiệt, việc căn do,

Tâm linh chỉ vẽ dặn dò mới hay ;

Biết mình là biết như vầy,

Lại còn phải biết mấy bài tiếp sau. (III, 452)

 

 

 

 

 

 

III.           

 

Loài người hẳn có tâm linh,

Xưa nay thiên hạ thảy tin như vầy :

Việc làm tiếng nói tỏ bày,

Lại thêm sách vở xưa rày chép ghi.

Vậy ai còn dám hồ nghi,

Ấy là một kẻ ngu si đã đành ;

Sống mà chẳng biết phận mình

Sống không an phận, chết sinh thêm rầy.

Linh hồn sống đã không hay,

Chết rồi mới biết, biết rày khó toan. (III, 454)

IV.           

 

            Mỗi người có một tâm linh,

Xác dầu hay chết hồn linh sống hoài ;

Ấy đều chắc chắn không sai,

Muôn dân thiên hạ xưa rày vẫn tin.

Người không giữ, chữ còn in,

Miệng dầu có chối, việc nhìn đinh ninh.

Nếu hồn đã gọi rằng linh,

Ắt cùng phải nói thường sinh chi hồn.

Làm người đã có trí khôn,

Phải thông mấy chữ sinh, tồn, tử, vong.

Chớ lầm vong, kẻo lâm vòng,

Lâm vòng thiên võng, khó trông gỡ mình.  (III, 457)


 

 

V.             

 

Biết mình hồn tính thiêng liêng,

Xác dầu có chết hồn nguyên sống đời,

Sống đời ắt phải về nơi,

Thiên đàng Địa ngục mặc thời thân ta ;

Lành không cứ, dữ không xa,

Thiên đàng đà hỏng, lại sa địa hình ;

Tu thân tích đức thìn mình,

Địa hình ắt khỏi, Thiên đàng đặng lên ;

Bấy lời hãy nhớ đừng quên,

Biết mình như vậy mới nên nhơn hiền. (III, 459)

VI.                      

 

Xác hồn rày hiệp cùng nhau,

Khi hồn lìa xác đời sau phải về ;

Thiên đàng chính thật là quê,

Kẻ lành về đó mọi bề hỉ hoan ;

Địa hình khổ hãi tân toan,

Phạt cầm kẻ dữ gian nan đời đời.

Ấy là phước hoạ hai nơi,

Bỡi phép Chúa Trời gầy dựng thuở xưa ;

Muốn thiên đàng, tội hãy chừa.

Khâm sùng Thượng Đế khắc thừa Hoàng Thiên.

(III, 462)


 

VII.        

 

            Đông, tây, nam, bắc tứ phương,

Dẫu phân bốn hướng cũng nương một trời :

Người lành kẻ dữ khắp nơi,

Phục quyền một Chúa nào ai khỏi mà ?

Sống dầu bay thẳm chạy xa,

Chết rồi không khỏi đi qua lưới Trời.

Vậy nay gẫm lại anh ơi,

Gẫm suy cho thấu bấy lời biện phân,

Sống lo thờ Chúa ân cần,

Thác về quê thật lãnh phần tiêu diêu. (III, 464)

VIII.      

 

            Muôn loài thảy có chơn nguyên,

Ấy là chính lý đương nhiên giữa đời ;

Kìa xem cảnh cuộc đất trời,

Nếu không Thiên Chúa vậy thời ai sinh ?

Vã thêm nhiều chứng đinh ninh,

Hiền nhơn ghi chép sữ kinh di truyền ;

Chữ Thiên, Thượng Đế, Hoàng Thiên,

Tuy dầu khác hiệu, ý duyên cũng đồng.

Làm người phải xét cho thông ;

Biết mình cho tột, mới xong con người. (III, 467)

 

 

IX.           

 

Giữa trời có một Chúa Trời,

Hằng có đời đời vô thỉ vô chung ;

Thiêng liêng sáng láng vô cùng,

Oai quyền phép tắc khoan dung tốt lành.

Chí công chí thánh chí thành,

Dựng nên muôn vật tạo sanh nhơn loài ;

Ấy đều chơn thật không sai,

Khuyên người quân tử nhớ hoài đừng quên.

Đời nầy giữ đạo cho nên,

Phượng thờ Thiên Chúa để đền công ơn. (III, 469)

X.             

 

Hối nhi bất cập, anh ôi !

Khuyên anh lo hối, lôi thôi thêm rầy ;

Cuộc đời khác nữa chòm mây,

Sánh dường bọt nước ví tày chiêm bao.

Sống không liệu, chết làm sao?

Thiện ác đáo đầu hữu báo ư chung,

Người khôn phải nghĩ cho cùng,

Trạch thiên nhi tùng mới gọi rằng khôn ;

Khôn thì trước phải khôn hồn,

Là lo thờ Chúa chí tôn chí thành.

Đời nay nắm giữ đạo lành,

Dẫu lâm số bạc cũng đành dạ son ;

Như vầy mời gọi rằng khôn,

Rằng khôn như vậy xác hồn mới yên. (III, 473)

 

TỔNG LUẬN VỀ NGƯỜI KHÔN NGOAN

Tìm về chính lộ mới rằng khôn,

Khôn vậy phải lo kẻo thiệt hồn.

Hồn thiệt một phen vào hỏa ngục,

Ngục xa ngàn dậm cách thiên môn,

Thiên môn muốn nhập, tìm chính lộ,

Chính lộ phải thờ đấng chí tôn.

Tôn kính thành tâm như đã biết.

Biết mình như vậy ấy là khôn. (III, 474)

 

 

 

 

 

 



[1]Phong tình là tình tư dục.

[2]Bàn minh là thùng tắm vua Thang có khắc câu Nhựt Tân.

[3]Dao thương dị hảo, ác ngữ nan tiêu.

[4]Bế khẩu thâm tàng thiệt, an thân xứ xứ lao: đóng miệng giữ lưỡi cho sâu thì mình đặng nơi an dật.


    


94 Bành Văn Trân, Phường 7, Quận Tân Bình, TpHCM

ĐT : 0838640000

Email : fmsrchvn@yahoo.com

            fmsrchvn@gmail.com