KHỔ CHẾ, CON ĐƯỜNG HOÀN THIỆN ĐỜI TU

M. Rose Vũ Loan, Fmsr

Hiện nay, một trong những vấn đề được các nhà đào tạo quan tâm, đó là trào lưu “thế tục hóa” đang gây nên những khó khăn trong đời sống đức tin của người Kitô hữu nói chung và cách riêng trong việc đào tạo các tu sĩ. Đời sống thánh hiến đang từng ngày đối diện với những thách đố nẩy sinh từ một xã hội tiêu thụ và thực dụng. Đây là điều mà Đức Thánh Cha Bênêdictô đã lên tiếng vào ngày 3-2-2010 tại Naples như sau: “Nền văn minh tục hoá đã thâm nhập vào trong tâm trí của các tín hữu và một số cộng đoàn sống tận hiến, lấy cớ cần một sự cởi mở với tính hiện đại và một cách để tiếp cận với thế giới đương thời” [1].

Trong một thế giới có nhiều tiến bộ về lãnh vực vật chất với mạng lưới thông tin rất đa dạng như hiện nay, những tác động của sự tục hóa có nhiều cơ hội len lỏi vào từng ngõ ngách của đời tu dưới mọi hình thức và đang làm thay đổi tư duy, nhận thức của các tu sĩ, khiến họ mất dần cảm thức thuộc về Thiên Chúa, dẫn đến sự yếu kém trong đời sống tâm linh và trong việc đào luyện bản thân. Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói về điều này như sau: “Trong một thế giới thấm nhiễm chủ nghĩa tiêu thụ… tiếng nói của Thiên Chúa không còn được nghe thấy, niềm vui an bình của tình yêu Chúa không còn được cảm nhận và ước muốn làm điều thiện bị phai mờ” [2].

Khi được sinh ra và lớn lên giữa một xã hội tục hóa, chúng ta không thể không bị ảnh hưởng bởi luồng gió thiếu “trong lành” của các phương tiện truyền thông và bởi những gì xã hội đang tác động. Có thể nói rằng: người tu sĩ hôm nay đang hít thở một bầu khí hỗn hợp, vừa thánh thiêng vừa thế tục, và dường như sự giằng co giữa hai yếu tố này khiến cho người tu sĩ mập mờ trong ơn gọi của mình. Khi đối diện với những cám dỗ đầy hấp dẫn và ngọt ngào của thế giới vật chất, họ cảm thấy thiếu tịnh tâm trong các giờ cầu nguyện, khó khăn trong việc diễn tả vai trò thánh thiêng của mình và nhất là không đủ nhạy bén trong khi sống các lời khuyên Phúc Âm. Trước thực trạng này, Đức Hồng Y nguyên Tổng trưởng Bộ Đời Sống Thánh Hiến Franc Rodé đã khuyên các tu sĩ như sau: “Thách đố to lớn của đời sống dâng hiến hôm nay là sự tục hoá từ bên trong của đời thánh hiến… Các cộng đoàn tu trì phải trở về với nguồn của đặc sủng thành lập và với những giá trị Tin Mừng. Phải trả lại vị trí trung tâm của đời sống thánh hiến cho đời sống cầu nguyện, đời sống huynh đệ cộng đoàn, ơn khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Phải tái khám phá những giá trị căn bản này để sống chúng và làm chứng cho chúng trong thế giới: đó là cách thế trao ban cho đời sống tu trì một đà vươn lên mới.” [3]

Quả vậy, sự tăng trưởng vật chất đang tạo ra những vấn đề cho đời tu. Nhiều tâm hồn đã quyết tâm theo Chúa Kitô nhưng lại không vượt qua được những cám dỗ của sự dễ dãi và những tiếng gọi mời của một nếp sống hưởng thụ, an nhàn và ích kỷ. Đức Thánh Cha Phaolô VI đã cảnh báo các tu sĩ trong Tông huấn Loan Báo Tin Mừng rằng: “Một đặc điểm của nền văn minh thế giới hôm nay là hướng về sự tăng trưởng vật chất một cách hầu như bất tận. Nếu tu sĩ để mặc cho mình bị lôi cuốn vô độ vào sự tìm kiếm những tiện nghi, nếu tự cho mình tất cả những gì người ta mời mọc, không phân biệt, không điều độ lại còn lấy thế làm bình thường, thì còn đâu là chứng tá? Trong lúc nhiều người càng ngày càng bị đe dọa bởi nguy cơ sa lầy trong sự quyến rũ và sự bảo đảm của sở hữu, của kiến thức, của quyền lực thì tiếng gọi của Thiên Chúa đặt tu sĩ chúng con vào cao điểm của một lương tâm Kitô giáo: đó là nhắc lại cho mọi người biết rằng sự phát triển chân thật và đầy đủ của họ là đáp lại ơn gọi được tham gia vào sự sống của Thiên Chúa như những người con thảo” [4].

Chúng ta phải công nhận rằng tiền bạc vật chất tự nó không phải là xấu. Chúng ta cần nó để sống và thi hành sứ vụ. Tuy nhiên, điều quan trọng là chúng ta không để mình bị lệ thuộc vào nó, nhưng biết khôn ngoan xử dụng nó như một phương tiện đạt tới những gì cao đẹp, biết sáng suốt đặt nó trong vai trò phục vụ cho những giá trị vĩnh tồn, như Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng: “Hãy dùng của cải trần gian mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu” (Lc 16,9). Chúa Giêsu đến trần gian không phải để ngăn cản chúng ta tìm kiếm hạnh phúc, nhưng Ngài chỉ cho chúng ta con đường dẫn tới hạnh phúc chân thật và lâu bền (xem Mt 5,3-12). Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ này cùng với muôn loài trong đó và Ngài thấy mọi sự tốt đẹp (xem St 1,31). Thiên Chúa muốn chúng ta hưởng dùng mọi của cải từ trái đất này, nhưng đừng để chúng chiếm chỗ nhất trong cõi lòng và cũng không để chúng làm lu mờ hình ảnh Thiên Chúa trong tâm hồn hoặc làm cớ cho chúng ta mất hạnh phúc đời đời: “Nếu mắt của anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi, vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy chặt mà ném đi, vì thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân phải sa hỏa ngục” (Mt 5,29-30).

Khi bước vào đời tu, ai cũng biết rằng cuộc sống của mình là đi theo Chúa, mà điều kiện tiên quyết Chúa Giêsu đưa ra cho những ai muốn theo Người là “hãy từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta” (Mt 16,24). Chúa Giêsu đã dạy như thế và chính Ngài cũng đã nêu gương từ bỏ cho chúng ta trong mọi tình huống:

-         Khi chào đời, Chúa đã chọn một gia đình nghèo và chọn một chỗ nghèo hèn để sinh ra.

-         Ngay khi bắt đầu sứ vụ, Chúa đã vào sa mạc chay tịnh và cầu nguyện 40 đêm ngày. Sau thời gian đó, Chúa đã bị ma quỷ cám dỗ về danh vọng, quyền lực và tiền bạc. Nhưng Chúa đã vượt qua những cám dỗ này.

-         Trong khi rao giảng, Chúa đã rong ruổi khắp nơi để đem lại hạnh phúc cho mọi người, nhưng bản thân Ngài lại sống rất đơn giản: “Con chồn có hang, có chim có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8, 20),

-         Nhiều lần dân chúng tôn vinh Ngài và muốn đưa Ngài lên làm vua, nhưng Ngài đã bỏ họ để rút đi nơi khác (Ga 6,5).

-         Vào cuối đời, Ngài đón nhận sự phản bội của các môn đệ, Ngài chọn cái chết trong khổ hình và trần trụi trên Thánh Giá.

Vậy, để nên giống Chúa, chúng ta không thể chọn con đường nào khác ngoài con đường thập giá, con đường khổ chế. Con đường khổ chế mà chúng ta được mời gọi bước vào, đó là sự khổ chế theo tinh thần của Tin Mừng, nghĩa là thực hành một cách cụ thể lối sống của Chúa Giêsu.

Khổ chế theo Tin Mừng không có mục đích hủy hoại thân xác hoặc sống kiểu lập dị, khác người, nhưng là để trổ sinh và phát triển: “Nếu hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, nhưng nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12, 24).

Với cái nhìn này, sự khổ chế được coi là con đường cần thiết để trổ sinh những hoa trái thánh thiện trong đời sống. Đi vào con đường khổ chế này, cõi lòng chúng ta sẽ:

-         Bớt đi những dính bén “sự đời”, tâm hồn được tự do thanh thoát vươn tới lý tưởng đã chọn, đồng thời duy trì được sức mạnh của cả tinh thần lẫn thể xác.

-         Chạm đến chiều sâu của nhân cách, giúp khám phá và làm chủ những khuynh hướng tự nhiên của bản thân để có thể giữ được sự quân bình của đời sống;

-         Nhận ra khát vọng chân thật của tâm hồn mỗi khi chúng ta muốn dễ dãi phóng ra bên ngoài;

-         Đưa chúng ta vào sự thông hiệp với Chúa và tha nhân mỗi khi lòng ta hướng chiều về những tiện nghi vật chất;

-         Cho chúng ta cảm nhận được hạnh phúc vĩnh cửu mỗi khi chúng ta muốn tích lũy cho đời mình bằng những điều mau qua.

T xa xưa, truyền thống tu đức của Giáo hội thường cổ võ việc khổ chế với mục đích giúp cho con người dễ gặp gỡ Thiên Chúa. Lịch sử Giáo Hội đã được kết dệt từ biết bao gương sáng của các vị thánh và những người đạo đức. Các ngài đã nêu gương sống khổ chế như một phương tiện đạt đến sự trọn lành. Các ngài đã từ bỏ những tiện nghi dư thừa, khước từ của cải vật chất cũng như những đam mê của tinh thần và xác thịt là để cho tư tưởng luôn hướng về Chúa và hạnh phúc thiên đàng. Và tùy theo mỗi trường phái tu trì, các tu sĩ còn có những cách thức để diễn tả sự khổ chế được nêu lên trong luật dòng. Chính khi nghiêm túc tuân giữ luật dòng mà các tu sĩ tự nguyện đặt mình trong sự khổ chế.

Một thực tế mà ai cũng có thể nhận thấy là khi xã hội càng đề cao hưởng thụ, người ta càng sợ đối diện với việc hy sinh hãm mình. Ngày nay, người ta không muốn nói đến hy sinh khổ chế, hoặc tìm cách tránh né, hoặc làm giảm nhẹ những quy tắc luật lệ vì cho rằng những điều này không còn hợp thời. Cũng do sự thay đổi quan điểm như thế mà trong các hội dòng, luật sống được nới rộng và nhẹ nhàng hơn, với mục đích để cho các tu sĩ tự lớn lên, trưởng thành và dễ thăng tiến. Thật ra, sự thay đổi này phù hợp với con người và thời đại hôm nay. Tuy nhiên, vì có những người thiếu kinh nghiệm trưởng thành, chưa đủ ý thức về kỷ luật bản thân nên đã có những lạm dụng, dẫn đến sự đua đòi, sống dễ dãi, tầm thường, buông theo sở thích, nên khó cảm nhận và khó sống được những giá trị cao đẹp và thánh thiêng của đời sống tu trì.

Lựa chọn con đường khổ chế, trước hết đó là một thái độ vui tươi, có ý thức và tự nguyện từ bỏ những gì không cần thiết hoặc những gì có thể cản trở tâm hồn được tự do hướng về Chúa và những điều đẹp ý Ngài. Ngoài ra, khổ chế còn là thái độ đón nhận mọi hoàn cảnh khó khăn gắn liền với phận người như lao động, khổ đau, bệnh tật, thiếu thốn, thử thách v.v… Những điều không mong ước này vẫn có thể xảy đến và nhiều lúc chúng vượt quá sức chịu đựng của chúng ta. Nhưng thật bổ ích nếu chúng ta đón nhận trong tinh thần đạo đức và biến chúng thành phương tiện huấn luyện đời tu của mình như Đức Cha Tổ Phụ đã dạy: “Ta không tìm dịp hy sinh thì ít nữa là khi nó đến, ta đừng trốn tránh. Đó là dịp cho được tỏ tinh thần hy sinh, nên phải lợi dụng để tập cho mình ngày càng nên thánh thiện” [5]. Nếu chúng ta biết tìm kiếm và đón nhận những thử thách trong cuộc sống như những cơ hội để nên thánh, chúng ta sẽ được vui hưởng các mối phúc Chúa hứa ban (xem Lc 6,20-23) và không gì có thể lôi cuốn hay làm xáo động cuộc sống chúng ta được.

Trong đời sống người tu sĩ, bí quyết để nên thánh là vui vẻ chấp nhận những trái ý, là tự nguyện hy sinh để được nên giống Chúa như kinh nghiệm của Thánh Phaolô, sau khi quay trở về với Chúa, Ngài đã hăng say với lý tưởng của mình, bất chấp mọi gian nan, hiểm nguy, như Ngài đã tâm sự với các tín hữu thành Côrintô: “Tâm hồn tôi chan chứa niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó” (2Cor 7, 4)

Khổ chế là con đường, là phương thế giúp chúng ta trở thành con người thuần thục để xứng đáng hưởng sự bình an và hạnh phúc chân thật do chính Chúa ban tặng. Sách Giáo Lý Công Giáo của Giáo Hội đã dạy như sau: “Con đường tiến đến hoàn thiện phải ngang qua Thập Giá. Không thể nào đạt được sự thánh thiện, nếu không có từ bỏ và chiến đấu nội tâm. Sự tiến bộ thiêng liêng đòi phải có khổ chế và hãm mình, từng bước giúp người tín hữu sống trong bình an và hoan lạc của các mối phúc thật” [6].

Như vậy, một cuộc sống tà tà, dễ dãi, bị lôi cuốn vào những giá trị mau qua của vật chất tiền tài thì quả là rất khó để đi vào tiến trình hoàn thiện. Sự Thánh thiện phải được trả giá bằng cả cuộc sống chuyên cần luyện tập nhân đức, hy sinh từ bỏ, hiến thân phục vụ Chúa và tha nhân. Tin Mừng Thánh Matthêu đã kể lại chuyện người thanh niên giầu có”. Anh ta đến hỏi Chúa Giêsu làm cách nào để nên trọn lành. Sau khi nghe Chúa đề nghị anh về bán hết tài sản để theo Chúa thì anh đã rút lui (xem Mt 19, 16-22). Thật ra anh là người khao khát sự trọn lành, anh đã lên đường tìm gặp Chúa và xin theo Ngài. Nhưng vì anh không từ bỏ được những quyến rũ của vật chất nên anh cảm thấy việc theo Chúa không còn hấp dẫn nữa. Hình ảnh người thanh niên này cũng có thể là hình ảnh của nhiều tu sĩ hôm nay: đi theo Chúa nhưng lại không vượt qua được những cám dỗ của thế giới thực dụng và những trào lưu của thế gian.

Sự hoàn thiện của đời tu luôn đòi hỏi chúng ta bỏ mình ở một mức độ cao hơn và thiết thân hơn. Đây là một lối sống đi ngược chiều với bản tính tự nhiên và với xã hội hôm nay. Đức Cha Tổ phụ cũng đã nhận định như sau: “Đi đàng nhân đức như chèo thuyền giữa dòng nước ngược, như trèo núi cho đến đỉnh cao, để bước tới trong đàng nhân đức cho đến đỉnh trọn lành” [7].

Trong thời buổi mà thế giới vật chất nghiễm nhiên trở thành trào lưu hầu như không thể chống cưỡng lại được, thì những quan niệm về hy sinh khổ chế hầu như bị mất dần chỗ đứng trong lòng nhiều con người. Nhưng Chúa Giêsu vẫn muốn đưa chúng ta lội ngược dòng đời. Chúa không muốn nhìn thấy ai trong chúng ta, một khi đã được thánh hiến cho Ngài, lại buông xuôi theo thói đời và đánh mất căn tính tu sĩ của mình. Ngài mời gọi chúng ta đi vào con đường hẹp, biết tự chủ bản thân và tiết chế những gì có thể biến cuộc sống thành tầm thường. Ngài mong chúng ta giữ được vẻ thánh thiêng của đời thánh hiến, có trái tim thanh thoát, tự do và biết sống vì lợi ích của tha nhân. Đó là điều kiện để nên đồng dạng thánh thiện với Đức Kitô.

Xin Chúa giúp chúng ta biết yêu mến mọi sự trong cuộc sống này cách thánh thiện và biết chú tâm tìm kiếm sự thánh thiêng qua mọi phương tiện của đời sống. Xin tình yêu Chúa đang tiềm tàng trong vũ trụ này, giúp chúng ta lý giải được thánh ý nhiệm mầu của Chúa trong mọi vật thể Chúa dựng nên, để tất cả trở thành con đường dẫn đưa chúng ta đến sự hoàn thiện, vì Chúa là Đấng Thánh.

 



[1] Theo Thông Tấn CNS ngày 05-02-2010

[2] ĐTC Phanxicô, Tông huấn Niềm Vui Của Tin Mừng, số 2

[3] Trả lời phỏng vấn của Đức Hồng Y Rodé, theo nhật báo Osservatore Romano ngày 8-11-2007

[4] Tông huấn Loan Báo Tin Mừng, số 19

[5] Gia Sản Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi, cuốn I, trang 197

[6] Giáo Lý Công Giáo của Hội Thánh, số 2015

[7] Gia Sản Dòng Chị Em Con Đức Mẹ Mân Côi, cuốn I, trang 218