các nhân đức


III. CÁC NHÂN ĐỨC

 

 

 


1.         Nên một nữ tu thánh thiện thì hằng phải tập tành mọi nhân đức. (I, 97)

2.         Tiên vàn hãy học tập mến Chúa và đi đàng nhân đức trọn lành. (I, 107)

3.         Thấy mình có kém tài thì phải lo cho thắng đức. (I, 177)

4.         Đi đàng nhân đức như chèo thuyền giữa dòng nước ngược, như trèo núi cho đến đỉnh cao, để bước tới trong đàng nhân đức cho đến đỉnh trọn lành. (I, 218).

5.         Người nhà dòng phải có lòng ao ước cho mình nên trọn lành một cách nồng nàn và vững vàng. (I, 427)

6.        Lòng đạo đức là một đặc ân ta phải cầu xin, là một phần thưởng ta phải cố gắng cho được. (I, 582)

7.        Lòng đạo đức sốt sắng tỏ ra trong cách nhìn xem, cách đi đứng, cách nói năng, cách xử sự, trong tất cả mọi nơi. (I, 582)

8.         Trong mọi việc hãy theo mức vừa phải.(I, 609)

  Đức Tin

9.     Sống theo tinh thần đức tin là lấy đức tin mà suy nghĩ cùng xét đoán mọi sự. (I, 185)

10.      Tinh thần đức tin làm cho kẻ ấy gặp may hay rủi cũng bình tĩnh luôn. (I, 186)

11.      Tinh thần đức tin làm cho người nữ tu biết phó cha mẹ anh em chị em cùng cả gia đình cho Chúa lo. (I, 186)

12.      Dù khỏe mạnh hay ốm đau thì tinh thần đức tin cũng không thay đổi, tin mọi sự đều bởi thánh ý Chúa cho nên mình chẳng dám muốn sự gì trái ý Chúa định. (I, 186)

13.      Người nhà dòng phải có đức tin vững chắc, thật thâm trầm, thật mạnh mẽ. (I, 330)

14.      Đức Tin làm cho người nhà dòng vui tươi hớn hở luôn. (I, 368)

15.     Có đức tin mạnh mẽ thì chướng ngại vật không ngăn cản được ta, mà  chỉ làm dịp để ta lập công. (I, 638)

Đức cậy

16.      Tinh thần đức cậy làm cho người nữ tu phó mọi sự trong tay Chúa. (I, 186)

17.      Tinh thần đức cậy làm cho người nữ tu biết tin cậy kẻ thay mặt Chúa. (I, 187)

18.      Tinh thần đức cậy làm cho chị em ở với nhau xứng tên, xứng hiệu. (I, 187)

19.      Phải năng than thở cùng Chúa để giục lòng trông cậy Chúa. (I, 218)

Đức Mến

20.      Tinh thần mến Chúa trước hết phải tự lòng mà ra. (I, 188)

21.      Tập thói quen mỗi khi bắt đầu làm việc gì, than thở cùng Chúa rằng : “Lạy Chúa, con xin làm việc này vì lòng mến Chúa, xin Chúa thêm đức mến vào lòng  con”.(I, 188)

22.      Muốn đi đàng trọn lành thì tiên vàn phải tập đức mến Chúa. (I, 219)

23.      Tôi mến Chúa Giêsu, Người nhân hậu hiền từ là dường nào. Người mỉm cười, vui mặt cùng tôi luôn. (I, 255)

24.      Tôi mến Chúa Giêsu đang khi trò truyện; tôi không quên Người, thỉnh thoảng tôi nhắc đến Người cho chị em nhớ. (I, 255)

25.      Tôi mến Chúa Giêsu đang khi học hành, tôi nhớ Người như đang ngồi dậy các môn đệ mình. (I, 255)

26.      Vì lòng mến Chúa Giêsu, tôi hãm cầm tính thèm nhạt và tìm dịp hãm mình trong việc ăn uống. (I, 256)

27.      Tôi mến Chúa Giêsu đang làm việc vất vả ở nhà Nazarét, nên đang khi tôi làm việc tôi hằng nhớ Người luôn. (I, 256)

28.      Chớ gì mỗi hơi tôi thở, thì thở lửa mến Chúa bởi lòng tôi mà ra. (I, 257)

29.      Trong mọi việc ta làm, mọi lời ta nói, mọi sự ta lo, thì hãy làm, nói, lo, chỉ vì lòng mến Chúa mà thôi. (I, 219)

30.      Phải năng giục lòng mến yêu Chúa, và xin Chúa đốt lửa kính mến trong lòng ta. (I, 359)

31.    Nếu ta năng giục lòng mến Chúa, tất nhiên ta cũng năng nhắc trí đến Chúa trong mọi việc ta làm. (I, 359)

Khiêm nhường

32.      Hãy ở khiêm nhường, thì Chúa hằng gìn giữ và ban ơn giáng phúc cho luôn. (I, 99)

33.      Khiêm nhượng phải giữ cả trong lời nói, trong cách ăn ở, mà lại phải có tự trong lòng nghĩ mình là kém hèn thật, chớ lấy mình làm hơn và khinh ai bao giờ. (I, 99)

34.      Phải giữ đức khiêm nhượng và dằn tính kiêu ngạo, nhất là những khi gặp sự gì chẳng vừa ý hay là khi được người ta tâng khen hoặc khi gặp được điều vinh, lâm phải điều nhục.(I, 99)

35.      Phải giữ sự khiêm nhường bề trong, chớ ước muốn chức phận gì, chớ cầu lời khen, chớ thẹn lời chê, chớ buồn khi bị quở phạt, chớ vui khi được khen lao. (I, 238)

36.      Đức khiêm nhượng là nền mọi nhân đức, nên một nữ tu có lòng khiêm nhường thật thì dễ dàng tập các nhân đức khác, dễ vâng lời, dễ mà chịu khó hãm mình. (I, 236)

37.      Một nữ tu khiêm nhường thì dễ ăn, dễ ở, ai cũng mến thương, và chính Đức Chúa Trời cũng mến yêu, và ban cho nhiều ơn phúc. (I, 237)

38.      Đừng thích những việc vẻ vang hơn những việc hèn hạ, vì mọi việc chỉ làm cho sáng danh Chúa chẳng phải cầu danh cho ta. (I, 238)

39.      Đức khiêm nhường không thích lời nói tỏ bộ khiêm nhường. (I, 238)

40.      Muốn làm trọn nghĩa vụ phải khôn ngoan, dè dặt và giữ thái độ ôn hòa. (I, 178)

41.      Chị em muốn được vui vẻ, muốn làm việc lành, muốn kéo được nhiều ơn Chúa xuống, muốn làm việc một cách có công nghiệp luôn, muốn được Chúa thương yêu, người ta mến phục, thì hãy ở khiêm nhường. (I, 457)

42.      Thuốc độc nhất của tính kiêu ngạo là sự khiêm nhường. (I, 458)

Hiền lành-Thật thà

43.      Phải giữ đức hiền lành không những với kẻ khác, lại với mình nữa. (I, 100)

44.      Thật thà bề trong làm sao, bề ngoài làm vậy, đừng xuyên hoa giả dối. (I, 189)

45.      Một nữ tu có tinh thần ngay thẳng, thật thà thì làm mọi việc chỉ vì một ý ngay lành là yêu Chúa. (I, 190)

46.      Tinh thần thật thà ghét nhất là sự giả hình. (I, 190)

47.      Một nữ tu thiếu sự thật thà, thà ra thế gian cho xong. (I, 190)

48.      Phải có tinh thần ngay thẳng thật thà, lớp lang thứ tự, đức kiên tâm an phận, đức vui vẻ tươi cười. (I, 197)

49.      Phải thật thà trong lương tâm. Ấy là điều cần nhất, chớ bao giờ nói làm sự gì trái nghịch tiếng lương tâm. (I, 246)

50.      Phải thật thà trong trí, đừng làm kiểu làm cách cho có vẻ khác thường, chị em làm sao, mình cũng đơn sơ như vậy. (I, 246)

51.    Phải thật thà trong việc làm, trước mặt làm sao, sau lưng cũng thế. (I, 246)

52.      Phải thật thà nhận lỗi, hãy gớm ghét thói nói quanh chữa  mình cho nhẹ lỗi. (I, 246)

53.      Phải thật thà đối với cha linh hồn, các đấng bề trên đã đành, lại đối với mọi người thay thảy, chớ phỉnh phờ, dối trá, nịnh hót ai bao giờ, và cũng đừng dối mình nữa. (I, 246)

54.      Đức ngay thẳng làm cho mọi người tín nhiệm và trọng kính. (I, 620)

Sự Vui vẻ

55.      Sự vui vẻ là một nhân đức, vì người thánh mà buồn là thánh vô duyên, chẳng có chân dung người thánh. (I, 193)

56.      Một nữ tu có tinh thần vui vẻ thì hằng vui theo ý Chúa. Ở đâu lúc nào mặt mũi cũng cứ tươi cười. (I, 194)

57.      Tinh thần vui vẻ hằng vui vẻ với hết mọi người, làm cho mọi người xung quanh mình vui. (I, 194)

58.      Một nhà dòng không vui vẻ, thì ấy là một nhà dòng bạc nhược. Sự vui vẻ nơi nét mặt tỏ sự trong sạch trong lương tâm. (I, 194)

59.    Sự vui vẻ thật ở tại bề trong mà xuất ra nơi nét mặt, làm cho bộ diện tươi cười như hoa nở. (I, 194)

60.      Sự vui vẻ thanh sạch là hình bóng thiên đàng. (I, 194)

61.    Hễ là thánh thì tự nhiên phải có vui vẻ, tự trong tâm mà phát ra. (I, 194)

62.      Chị em hãy tập nét mặt tươi cười luôn. (I, 195)

63.      Người nữ tu hy sinh bởi tình nguyện nên an lòng vui mặt. (I, 195)

64.      Ở nhà dòng là nơi làm tôi Chúa vui vẻ, không việc gì mà tỏ mặt ưu sầu. (I, 205)

65.    Hằng vui cười luôn và sốt sắng chăm chỉ làm việc. Biết dùng cặp mắt quan sát mà nhận định mọi việc. (I, 372)

66.      Sự vui vẻ biểu lộ một tâm hồn vô tội, ngay lành và bình an. (I, 372)

67.      Hãy lĩnh lấy phần việc cách dịu dàng, đem mọi sự vui đến khắp mọi nơi. Không phải sự vui rộn ràng, song là mua vui cách đơn sơ, thật thà, yêu mến, dễ thương. (I, 401)

Hy sinh - hãm mình

68.      Đức hãm mình thường theo đức chịu khó - hay chịu khó mới hay hãm mình. (I, 101)

69.      Hãm mình bề trong là hãm ý riêng. (I, 101)

70.      Hãm mình bề ngoài là hãm thân xác, hãm ngũ quan. (I, 101)

71.      Phải tập đức chịu khó, trí khôn phải chịu khó ; thân xác phải chịu khó, cái gì cũng phải ráng sức, làm cho hết tài lực Chúa ban, đừng làm qua loa cho hết thời buổi. (I, 101)

72.      Đức chịu khó dạy phải thắng lướt các trở lực, chẳng quản nắng mưa, không màng bức rét, không tìm nhẹ lánh nặng ; cái gì khó chẳng muốn để cho ai, mình đành kê vai vác lấy. (I, 101)

73.      Kẻ hay chịu khó dù lâm bệnh nạn, cũng cố sức, bao giờ kiệt lực mới núng nao ; dẫu làm sao cũng không hề phàn nàn năn nỉ. Nhất là chẳng hề vịn lẽ ốm đau mà xin chước việc này việc khác. (I, 101)

74.      Kẻ biết hãm mình, thì lập được nhiều công đức. (I, 101)

75.      Khi gặp sự gì trái ý, dù bởi nơi bề trên hay bởi  nơi chị em, hoặc bởi nơi kẻ khác thì cũng như Chúa gửi cho tôi, tôi hãy an lòng vác lấy. (I, 193)

76.      Phải sẵn lòng sửa cải, khi nghe bề trên hay chị em sửa vẽ cho điều gì. (I, 197)

77.      Phải giảm những điều vô ích, những sự không cần. (I, 197)

78.      Ta không tìm dịp hy sinh, ít nữa là khi nó đến, ta đừng trốn tránh. (I, 197)

79.      Hãy làm mọi việc thường ngày, hẳn hoi, sốt sắng, chớ hay nản lòng. (I, 197)

80.      Tu thân phải đi theo hai chữ khắc kỷ, có khắc  kỷ mới tu thân được. Khắc kỷ ấy là hãm mình. (I, 239)

81.      Có nhiều sự đối với người thế gian vốn không tội, nhưng đối với bậc nhà dòng thì không hợp, cho nên phải cất đi, ấy là một việc hãm mình. (I, 239)

82.      Khi bề trên cho ở một phòng, hay đi một sở không vừa ý, thì hãy vâng cho vui lòng. Đó là một việc hãm mình rất tốt. (I, 242)

83.      Người nhà dòng có lòng mến thứ tự chừng mực thì không hấp tấp khi thấy nhiều việc phải làm... Hãy nhìn xem thánh ý Chúa trong mọi sự mọi nơi. (I, 371)

84.      Biết nhịn nhục mọi sự không vừa ý, vội quên sự người ta phạm đến mình, học biết tính mình cho khỏi phạm đến người khác. (I, 371)

85.      Hãy ý tứ gìn giữ mình và ở nết na trung tín với hết mọi việc bổn phận. (I, 410)

86.      Mỗi ngày hãy làm ít nhiều việc hãm mình đối với nhân đức chị em có ý tập, hoặc đối với các nết xấu có ý sửa. (I, 443)

87.    Không có sự hãm mình, người ta không thể nào được hạnh phúc. (I, 455)

88.      Mọi việc trong nhà Chúa dù việc phần hồn hay phần xác, dù việc trọng hay việc hèn cũng kể là việc Chúa hết. Vì thế một nữ tu có tinh thần thì chẳng hề biết phân biệt việc này việc khác... Kẻ ở nhà dòng chẳng vì cầu lợi ham danh mà thích lo việc phần xác, song chỉ vì các việc ấy ở trong nhà Chúa là việc Chúa. (I, 535 - 536)

89.      Việc càng khó nhọc nặng nề thì càng phải làm cho vui vẻ. (I, 536)

90.      Làm việc phải đằm thắm, phải nhịn nhục. Phải tập tính sửa nết sao cho an vui hòa nhã luôn, làm việc với ai thì nấy cũng thích tính mình, làm việc với ai cũng không gì ái ngại. (I, 539)

Can đảm

91.      Ai động chạm đến cũng chẳng xem sao, ai vả mặt cũng tươi cười bình tỉnh, ấy là tinh thần can đảm. (I, 193)

92.    Chị em phải tập cho quen tinh thần can đảm. Hãy bình tĩnh, an vui. (I, 193)

93.      Cá tính của mỗi người cũng là một trở ngại, phải có những sự cố gắng anh hùng mới thắng nổi. (I, 639)


    


94 Bành Văn Trân, Phường 7, Quận Tân Bình, TpHCM

ĐT : 0838640000

Email : fmsrchvn@yahoo.com

            fmsrchvn@gmail.com